Thiếu nhi Đà Nẵng hè này vui chơi ở đâu ?

Nhiều người dân ở Đà Nẵng hoặc khách tham quan đến đây đều đặt câu hỏi: vì sao là một thành phố lớn của miền Trung, là nơi tập trung nhiều mối giao lưu với các tỉnh lân cận, đến bây giờ vẫn chưa có được một trung tâm vui chơi, giải trí tầm cỡ đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu nhi ?
Ở Đà Nẵng, Công viên 29/3 được xem là Công viên Trung tâm. Với thành phố 700 ngàn người thì công viên chính rộng 22 ha chưa phải là lớn nhưng nếu với bấy nhiêu mà được quan tâm tổ chức đầu tư, khai thác có hiệu quả thì cũng đã đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí của người dân, nhất là lứa tuổi học đường. Những năm qua, Công viên 29/3 đã có nhiều cố gắng trong việc lập lại một không khí trong lành cho môi trường văn hóa của thành phố. Song để trở thành một khu vui chơi giải trí thực sự thì dường như, các doanh nghiệp ở Đà Nẵng đã quá chậm chân. Trong 22 ha công viên thì đã có 11 ha mặt nước hồ, được bao quanh bởi hai con đường Điện Biên Phủ và Nguyễn Tri Phương. Phần đất còn lại để từng cây xanh và bố trí các trò chơi như đu quay, đi tàu lượn, nhà đại dương, xe đụng tự do, đi máy bay… tổng cộng có 13 trò chơi. Tuy nhiên, ngoài những ngày lễ Tết, ngày thường công viên vắng hoe. Doanh thu hằng năm của công viên 29/3 hơn 2 tỉ đồng thì chỉ riêng Hội hoa xuân đã chiếm 1,6 tỉ. Hằng năm đón 280.000 lượt khách nhưng trong dịp tết chiếm 200.000 lượt. Ngày thường khoảng vài trăm lượt khách vào công viên doanh thu khoảng 500.000 không đủ bù đắp chi phí. Có thể nói các trò chơi ở đây đang nằm trong tình trạng ế ẩm mặc dầu tiền đầu tư tốn cả bạc tỉ. Các hoạt động buôn bán đồ lưu niệm, hàng đồ chơi….trong công viên luôn đìu hiu. Một cán bộ ở đây giải thích là “do thu nhập của người dân chưa cao, nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí chưa nhiều. Đầu tư vào đây lớn mà thu hồi chậm nên các doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà kinh doanh vào đây”.
Nếu nói nhu cầu giải trí của người dân Đà Nẵng “chưa nhiều” thì chưa chắc đã đúng. Thực tế, những ngày nghỉ, hàng ngàn người đã đổ về các bãi biển, về Ngũ Hành Sơn để vui chơi, tắm biển. Tuy nhiên, biển không thể ở cả ngày, nhiều gia đình muốn tìm một ngày thư giãn hoàn toàn cho sinh hoạt của một gia đình thì không đâu bằng vào công viên. Nhưng từ biển đến công viên là một chuyện phải bàn, bởi lẽ các bãi biển hiện giờ hầu như chưa được quan tâm tổ chức các dịch vụ giải trí, chưa an toàn. Trong một lần làm việc mới đây với chúng tôi, ông Trương Công Điệp – chuyên viên tổng hợp của Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố Đà Nẵng thừa nhận sự “thiếu hụt quá nhiều hệ thống sân chơi, bãi tập của các trường học ở Đà Nẵng. Học sinh chỉ biết vùi đầu vào học hành, như cầu vui chơi cho học sinh trong ngày nghỉ hè, không chỉ nhà trường lo mà đòi hỏi phải có sự quan tâm từ xã hội”. Ông còn cho biết “Hè này, nhiều tổ chức, công đoàn trường học, hội phụ huynh… tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, tham quan cho học sinh, giáo viên, các cơ quan xí nghiệp cũng tổ chức cho học sinh giỏi đi tham quan, du lịch ở các danh lam thắng cảnh trong cả nước. Tuy nhiên, đại bộ phận học sinh vẫn sinh hoạt tại phường và các điểm vui chơi ở thành phố. Như cầu vui chơi của các em là rất lớn. Vấn đề là thành phố có đáp ứng được hay không mà thôi”.
Theo chúng tôi, nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân Đà Nẵng và các tỉnh lân cận khi đến Đà Nẵng, nhất là lứa tuổi học sinh cấp I, cấp II rất lớn. Thế nhưng nhu cầu này vẫn chưa được những nhà kinh doanh ở Đà Nẵng quan tâm khai thác. Nhà sách Đà Nẵng vừa khai trương mới đây có lồng ghép các hoạt động kinh doanh giải trí đã thu hút đông đảo học sinh đến đây cho thấy nếu biết khai thác đúng lúc, đúng đối tượng thì thị trường kinh doanh giải trí cũng có điều kiện phất lên, nhất là trong điều kiện Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương như hiện nay. Vấn đề còn lại là vốn đầu tư và khả năng quản lý, khai thác của các doanh nghiệp mà thôi. Rất cần một chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, cung cấp thông tin về thị trường…giúp các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này trong tương lai không xa, Đà Nẵng sẽ có được trung tâm giải trí mang tầm vóc của thành phố đầu tàu của miền Trung, để trẻ em Đà Nẵng khỏi phải băn khoăn không biết chơi đâu một khi tạm xa sách vở trong những ngày hè, kỳ nghỉ.
Văn Thiêng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Tháng món ăn OSC Việt Nam tại Vũng Tàu

Thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, Công ty du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) đã tổ chức “Tháng món ăn OSC Việt Nam” tại khách sạn Grand thành phố Vũng Tàu từ ngày 26-8 đến lễ Nô-en và Tết dương lịch. Tham dự “Tháng món ăn OSC Việt Nam” có những nhân viên đầu bếp giỏi của 6 khách sạn: Grand, Place, Rex, Tháng 10, Sông Hồng, Royal.
Các món ăn được chế biến ở đây gồm: Phở Hà Nội, bún bò Huế, chả giò các loại, thịt nguội tổng hợp, lẩu… cùng các loại bánh dân tộc như: bánh lá, bánh xèo, bánh cuốn nóng, bánh ngọt, chè, sinh tố, kem v.v… Chất lượng và giá cả các món ăn phù hợp với túi tiền của từng du khách để họ có thể đến thưởng thức. Vì vậy, lượng khách đến các quầy của món ăn OSC Việt Nam bình quân hàng ngày từ 250 – 300 lượt người. Riêng thứ 7 và chủ nhật, lượng khách tăng từ 300 – 400 người. Ngoài ra, vào các tối khách còn được xem chương trình ca múa nhạc dân tộc miễn phí, có giao lưu với những người yêu thích văn nghệ. Được biết, trong những năm qua, Công ty du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam thường xuyên tổ chức “Tháng món ăn OSC Việt Nam”. Tuy nhiên, chưa bao giờ tổ chức tập trung và có lượng khách đến ăn đông như năm nay. Đây là một hoạt động thiết thực nhân kỷ niệm Ngày du lịch Thế giới (27-9). Mặt khác cũng nhằm thu hút khách trong tháng thấp điểm, tạo không khí sinh động cho khách sạn và tăng thu nhập cho công ty.
Kính mời bạn đọc đặt mua báo tuần du lịch quý IV/1999
Kính mời các cơ quan, đoàn thể, trường học, các ngành, các doanh nghiệp và bạn đọc đặt mua báo Tuần Du lịch quý IV/1999 tại bưu điện gần nhất hoặc Toà soạn Báo Tuần Du lịch – Nhà 2 – Khách sạn Kim Liên – phố Đào Duy Anh – Hà Nội.
Báo Tuần Du Lịch phát hành thứ 2 hàng tuần, khổ 29cm x 42cm, 16 trang. In màu, nội dung phong phú, đa dạng, hình thức đẹp.
Giá: 2.400 đ/tờ – Giá báo cả quý IV (13 kỳ): 31.200đ.
Bạn đọc có thể thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản về Báo Tuần Du Lịch theo tài khoản: 00 21 0000 19664 – Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng Tổng hợp – Báo Tuần Du Lịch
ĐT: 5741355 – Fax: 04.5741416
Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Văn hóa Huế từ góc nhìn ẩm thực

Đọc “Miếng ngon Hà Nội” của nhà văn Vũ Bằng, “Hà Nội ba mươi sáu phố phường” của nhà văn Thạch Lam, rồi những thiên tùy bút của Nguyễn Tuân v.v… mới thấy ẩm thực Việt Nam có thể so sánh với bất kỳ một nền ẩm thực nào trên thế giới. Ăn được xem như thể là văn hóa, thể hiện phép ứng xử của con người với con người và con người với tự nhiên.
Không da dạng như lối ẩm thực Bắc Hà, cũng không được phồn thực như lối ẩm thực Nam Hà, ẩm thực Huế có một chiều sâu riêng, mang đậm nét bản sắc của một vùng đất từng là kẻ chợ, thanh lịch, nhẹ nhàng và tùng tiệm. Người Huế ăn uống gắn liền với ba tiêu chí là: rẻ, ngon và nhất là phải đẹp. Một món ăn không đẹp, không phải là một món ăn. Và với những tiêu chí đã nêu, người Huế đã chia ăn uống thành ba bậc: Khẩu thực, nhãn thực và tâm thực. Khẩu thực là cách ăn không dám coi thường nhưng là cách ăn thấp nhất, vì là ăn bằng…miệng, và ăn để tồn tại. Nó dính dáng nhiều đến những cơ chế sinh học – như là sạc phin hay nạp xăng để vận hành một cỗ máy. Đến nhãn thực, cách ăn đã cao hơn một bực – ăn bằng mắt. Thưởng thức cái đẹp trong sự đắn đó về màu sắc, hình khối, khả năng bày biện, xếp đặt để tạo ra một hiệu ứng thẩm mỹ cao. Lúc này cái đói đã chịu ngồi chiếu dưới, nhường chỗ cho những xúc cảm đã sớm thăng hoa. Nhưng cao hơn hết thảy vẫn là tâm thực. Nghĩa là ăn bằng cả tấm lòng mình. Chẳng vì thế mà một bát nước rau muống đánh tí chanh tươi pha vào một ít mắm cốt, lại có thể đánh đổ biết bao sơn hào hải vị. Một trong những món ăn được rất nhiều người Huế ưa thích là rau dại nấu canh tập tàng. Khó mà diễn tả cái mùi bách thảo lan tỏa khi mở vung nồi canh. Cái thơm bùi ngùi của chối bí, một chút chát ngọt của rau bồ ngót, pha với chút hăng hăng của cây bồ hôi, rồi nào là dền gai, đọt thài lài non, nõn chuối chát, lá rau diếp cá….Có cảm giác như cả thế giới rau dại đã cùng nhau dung dăng dung dẻ trong bát canh xanh ngăn ngắt và gợi lên gốc gác, rằng có một thời con người đã sống bằng hái lượm. Với tuổi trẻ, thật khó có thể hiểu rằng bát canh rau dại nhỏ đã gói gắm trong nó cả một triết lý lớn về đời sống con người.
Trong ẩm thực, người Huế cũng mê gia vị đến mức cực đoan. Ngoài màu sắc đẹp, đồ gia vị mang lại cho vị giác nỗi “thống khổ” của cái ngon. Và trong bè giao hưởng hàng trăm loại gia vị, thì ớt vẫn là vị “nhạc trưởng” có chiến mũ đỏ đầy quyến rũ. Người Nam – Bắc Hà du lịch Cố đô, vẫn cay tít với Huế từ bát bún bò điểm tâm buổi sáng. Rồi bún hến, cơm hến, cho đến nước chấm các loại bánh khoái, bánh nậm, bánh lọc…Tất thảy đều cay. Thời sinh viên, nhiều lần cùng bạn bè ăn cơm hến buổi sáng cay xe miệng, xé lòng, tôi nghĩ đã nên thêm vào sắc tím trong bản màu truyền thống của văn hóa Huế một màu sắc nữa, đó là màu đỏ chói chang của ớt. Và như vậy, Huế sẽ tưng bừng hơn với màu tím vốn đằm thắm của mình.
Trở lại với cách ăn, người Huế xem ẩm thực gần như là một nghi lễ. Dù đơn giản hay bày biện phong phú, bữa ăn phải thanh tịnh, chén dĩa tươm tất, tư thế ngồi đằng thẳng. Không lăng xăng ồn ào trong lúc ăn. Đưa bữa là những câu chuyện gia đình vui vẻ. Hết sức tránh những chuyện buồn, chuyện đám tiếu, tranh luận cãi vã trong bữa ăn. Chính trong bầu không khí có vẻ như tôn giáo ấy, các thành viên trong gia đình ý thức nhiều hơn về sự bao dung và cẩn trọng trong hành xử hàng ngày. Thú vị nhất là với một món ăn, không bao giờ được dọn ra một lần mà mà được tiếp làm nhiều lần để vừa tránh được cảm giác ối thừa thức ăn, lại vừa giữ được thức ăn nóng suốt bữa. Do không năm được nét ẩm thực khoa học này, nhiều người lần đầu ăn cơm khách Huế, đã ái ngại nhìn những chiếc đĩa con con mà không dám “thực lòng”. Văn hóa ẩm thực Huế là sự trả lời cho câu hỏi “ăn như thế nào?” chứ không phải là “ăn cái gì?”. Chính vì vậy, ngay từ trong bếp núc các món ăn đã được chăm chút nhiều lúc đến mức thái quá, để giữ riêng một vẻ đẹp đặc trưng. Dù món ăn đó là nem công, chả phụng, bào ngư hầm hay canh hoa lý, mắm cua gạch….đều được thực hiện với một cung cách kỹ lưỡng như nhau.
Theo thời gian, ẩm thực Huế đang lên ngôi và ngày càng phổ biến trong nước. Có thể ăn một bát bún riêu cua Huế ở góc đường Hai Bà Trưng (Pleiku), một tô cơm hến có hơi bị ngọt hóa tận những con phố nghèo quận 8 (TP Hồ Chí Minh) hoặc là đĩa bánh bèo – nậm – lọc ở đường Nguyễn Thái Học (Quy Nhơn)….Món ăn Huế đã theo chân người Huế làm một cuộc du hành ở những nơi mới đến, các món ăn có thay đổi chút ít khẩu vị địa phương. Như vậy, những món ăn Huế lại sống tiếp một cuộc đời thứ hai với những “tín đồ” mới, ở những vùng đất mới.
Chính với cách ăn như một nghi lễ đời thường, người Huế đã xem ẩm thực là nhân cách. Qua cái ăn, con người bộc lộ những cách nghĩ, cách cảm về cuộc đời. Đưa cái ăn vốn nằm dưới tầm thấp của bản năng lên hàng ngũ của cái đẹp đó là những gì vô ngôn nhất mà người Huế nhân hậu đã dành cho loài rau dại và những chú hến nhỏ một đời vô danh dưới lớp bùn lưu của Hương Giang.
Hoàng Đình Thi – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Công ty khách sạn Hoàng Gia đưa khu nhà nghỉ vào nhà hàng vào hoạt động

Khu du lịch sinh thái suối Hoa Lan thuộc bán đảo Hòn Hèo – Nha Trang, Khánh Hòa do Công ty khách sạn Hoàng Gia quản lý và khai thác du lịch.
Hiện nay du khách đến suối Hoa Lan ngày càng đông, nhất là các tour từ Hà Nội, Đã Nẵng, Hội An, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh. Để tạo nên một khu du lịch khép kín nhằm phục vụ khách tham quan, nghỉ dưỡng, Công ty khách sạn Hoàng Gia – Khatoco đã đầu tư và đưa vào sử dụng khu nhà nghỉ, nhà hàng tại khu vực suối Hoa Lan. Tại đây, sau khi tắm biển, leo núi, thăm suối và xem cá sấu, khách du lịch được phục vụ nghỉ ngơi và ăn uống theo nhu cầu. Hiện này, khu nhà hàng có thế phục vụ cho hàng trăm khách với đầy đủ các dịch vụ, ăn ngủ, giải khát và mua sắm đồ lưu niệm từ những chế tác đặc thù bằng các sản vật của rừng và biển.
Tạo nên một khu du lịch sinh thái với những dịch vụ khép kín, Công ty khách sạn Hoàng Gia đã góp phần làm nên sự phong phú cho du lịch Nha Trang.
Đà Nẵng: xử lý hai đối tượng giả danh chủ hãng tour lừa du khách.
Trương Văn Trọng và Nguyễn Đình Ngọc, trú tại Đà Nẵng là hai lái xe ôm nhưng đã in card, giả danh là chủ hãng Tour đã nhận 350USD của 2 du khách Mỹ là Michael Khemper và Michael Haury để tổ chức tua xuyên Việt 07 ngày từ Hội An đi Tây Nguyên và TP Hồ Chí Minh. Khách đặt cọc cho 2 lái xe này số tiền 200 USD, nhưng do bị ốm khách không thực hiện chuyến đi và đòi lại tiền cọc. Vin vào lý do là “chủ hãng” Tour đã giữ lại 80USD, Trương Văn Trọng và Nguyễn Đình Ngọc chỉ trả cho khách 120USD.
Nhận được tin báo của khách, biết đây là một vụ kinh doanh du lịch trái phép, phòng Thương mại – Du lịch thị xã Hội An đã thông báo cho Sở Du lịch TP Đã Nẵng. Đồng thời Sở Du lịch Thành phố Đà Nẵng đã phối hợp với Công an Thành phố tiến hành điều tra, xác minh sự việc và buộc Trương Văn Trọng và Nguyễn Đình Ngọc nộp đủ 80USD để chuyển trả cho khách.
Sự việc giả danh chủ hãng Tour để hoạt động kinh doanh trái phép của 2 lái xe nói trên đang được các ngành chức năng tiếp tục làm rõ.
Ngô Trường Thọ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Hội thảo “xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”

Từ ngày 7 đến 9-9-1999 tại khách sạn Hanoi Horison, Tổng cục Du lịch Việt Nam, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và Ủy ban Kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) đã phối hợp tổ chức Hội thảo “xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam”.
Dự hội thảo có các Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Đăng Văn Tín, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Phú Đức cùng đại diện IUCN, ESCAP, các tổ chức quốc tế, các Bộ, ngành liên quan, các Ban quản lý khu bảo tồn, Vườn Quốc gia.
Tại hội thảo này, một lần nữa các đại biểu đã khẳng định Việt Nam có tiềm năng du lịch sinh thái vô cùng to lớn trên cơ sở những thế mạnh về tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng lại có tính đặc trưng riêng biệt. Từ đó xác định rõ nét hơn định hướng ưu tiên phát triển của loại hình du lịch này và coi đây là nguồn lợi kinh tế quan trọng của đất nước. Tuy nhiên những yếu kém trong công tác tổ chức và quản lý dẫn tới việc khai thác, bảo tồn sinh thái tự nhiên và nhân văn còn nhiều hạn chế, đã được hội thảo phân tích cụ thể. Trên cơ sở đó, cùng với một số kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực, các đại biểu đã tập trung nghiên cứu những vấn đề trọng yếu, làm cơ sở để xây dựng một khung chiến lược mang tầm cỡ quốc gia về phát triển Du lịch sinh thái ở nước ta.
Các đại biểu đã cùng nhau trao đổi và đưa ra khái niệm cơ bản về Du lịch sinh thái. Đó là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Trong đó hoạt động giáo dục và giải thích môi trường là yếu tố cơ bản. Từ khái niệm trên, Hội thảo đã xác định những yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng chiến lược về phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam. Đó là: Sự tham gia của cộng đồng (nơi có tiềm năng và vùng đệm); trách nhiệm cũng như khả năng hợp tác và mâu thuẫn giữa các thành phần liên quan; xác định rõ mục tiêu cho kế hoạch hành động; các vấn đề, các bước ưu tiên trong kế hoạch hành động; xác định các nhu cầu nguồn lực chính (tài chính, kỹ năng, đào tạo…) và những ý tưởng hình thành các hình thức đặc trưng của Du lịch sinh thái ở mỗi vùng, địa phương…
Hội thảo đã dành nhiều thời gian thảo luận sôi nổi theo nhóm với những chủ đề khác nhau căn cứ vào những yếu tố trọng tâm đã được xác định. Mỗi một chủ đề đều có sự gợi mở của các dẫn trình viên, nhằm giúp cho từng đại biểu đưa ra những chứng kiến của mình, kể cả những ý kiến trái ngược nhau, phát huy tích cực trí tuệ tập thể, để làm rõ vấn đề tới từng chi tiết. Và mỗi vấn đề đều có những kết luận chung nhất làm cơ sở để giúp cho các chuyên gia các nhà tư vấn nghiên cứu, xây dựng những nội dung cơ bản của chiến lược quốc gia và phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam, khi được Chính phủ cho phép.
Bùi Hỏa Tiễn – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Đuynăng người đầu bếp của thủ Tướng

Cũng như ở Việt Nam ta có bưởi năm roi, sự tích như thế nào chỉ người Đồng Nai mới rõ. Món gà Marengo cũng vậy có một huyền thoại đầy tính lịch sử khá thú vị? Vậy Marengo là gì? Đó là địa danh một mặt trận nổi tiếng nơi danh tướng Bonaparte đã chiến thắng quân Áo ngày 14 tháng 6 năm 1800 và đó cũng là tên đặt cho món gàn mái dò được Đuynăng người đầu bếp của thủ Tướng chấp chính nấu ngay tại bãi biển trường. Trong những ngày trận mạc, Bonaparte boa giờ cũng vậy chỉ sau trận đánh quyết định mới nghĩ tới ăn uống mà ăn ngay tại chỗ ở phía trước cùng với ban tham mưu của mình. Nơi đó cách quá xa đoàn xe tải lương tiếp tế đi theo quân đoàn. Chính vào lúc nhìn thấy quân địch bỏ chạy, Bonaparte mới yêu cầu đầu bếp cho ăn bữa tối. Bộ phận quân lương đánh bỏ mặc các sĩ quan hậu cần và tùy tùng để đi bòn mót thực phẩm trong vùng mang về nấu ăn. Kết quả cuộc tìm kiếm chỉ được vẻn vẹn có 3 quả trứng gà, 4 trái cà chua, 6 con tôm sông, và 1 con gà mái dò nhỏ xíu, một ít tỏi, một chút dầu và một cái xoong con. Trước hết Đuynăng nấu một nồi xúp bằng bánh lương khô với dầu và nước. Sau đó mới mổ gà và chặt miếng xào qua dầu rồi bị trứng bằng chỗ dầu còn lại cùng với vài nhánh tỏi và mấy quả cà chua rồi dội lên một chút nước hương liệu cùng tí xíu cô nhắc đôi từ bít tông rượu gần cạn của tướng quân Bonaparte rồi bày tôm lên trên vài đem hấp cách thủy cho chín. Làm xong, trút cả rổ chiếc khay thiếc, xung quanh con gà rán và mấy con tôm sống phun nước sốt của chính Bonaparte đã thưởng thức ngon lành và bản Đuynăng rằng: “ Sao này anh cứ cho tôi ăn như thế này cuối một trận đánh nhé”. Gốc gác của món gà ngẫu hứng này là phần nguyên liệu phần gia vì món gỏi Provangxan tương đối cũng có sốt dầu với tỏi và cà chua, ở Paris ai cũng biết các Đuynăng cũng thú nhận những con tôm sông chẳng có lý do gì có mặt trong món gà này cũng như anh ta đã thay thế rượu vang về nấu bằng nước lã, bỏ thêm nấm. Rồi một hôm Đuynăng đã thay đổi công thức nhằm cải tiến cách nấu cho ngon hơn nhưng lại làm cho Bonaparte phật ý và quở trách Đuynăng: “Anh đã bỏ những con tôm sông mất rồi. Điều đó làm tôi đau khổ quá, tôi không thích anh nấu như vậy đâu”. Thế là Đuynăng lại phải cho tôm sống vào thành phần phụ gia và cho đến ngày nay món gà Marengo này đã trở thành món ăn truyền thống.
Mai Khôi-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Bằng sự khéo léo của con rắn

Hắn yên lặng lắng nghe động tĩnh quanh nhà với đôi tai của loài mèo rừng rất tinh nhạy. Có tiếng chạm nhẹ vào cột dưới sàn nhà làm hắn giật mình. Bằng sự khéo léo của con rắn, hắn bò nhẹ ra khỏi chỗ ngủ và ghé mắt qua vách ván. Vài bóng đen đang lúi húi nấp dưới các cột khiến hắn không tin vào mắt mình. Phản ứng nghề nghiệp không cho hắn tính toán. Trở lại vỗ nhẹ mấy tên đang ngủ để báo động rồi hắn vọt qua cửa sổ hà sàn, bay qua vườn chuối. Đúng lúc ấy các trinh sát của cơ quan điều tra Lai Châu mai phục dưới sàn nhà ra hô: “Đứng lại tất cả đứng lại!. Nghe tiếng hô, mấy tên trên nhà còn ngái ngủ như bình tỉnh, biết rằng không còn đường nào thoát, chúng liền bàn kế phá vòng vây. Đứa cầm dao, đứa cầm gậy, giắt vào trong người hoặc lăm lăm trong tay lao xuống đất. Cứ thế bọn chúng lao qua các bóng đen đang đứng chờ ở dưới rồi chạy tán loạn ra các ngả khác nhau. Không được chạy tất cả đứng yên. Tiếp sau là tiếng súng bắn chỉ thiên. Bọn chúng vẫn chạy thục mạng. Một tiếng súng nữa nổ đanh giòn và tiếp đó là một tiếng ối. Tên cầm dao vội ngồi thụp xuống đất. Viên đạn đã găm đúng chân làm hắn không còn chạy được nên đã bị bắt và được các chiến sĩ băng bó vết thương đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Những tên còn lại tiếp tục bị truy đuổi. Không thạo đường lại hoang mang run sợ nên mấy tên cứ chạy quanh quẩn mãi trong vườn nhà ông Chống không tìm được lối ra. Ba tên nữa bị bắt ngay dẫn về nhà ông Chống để kiểm tra giấy tờ và hành lý. Tại đây, 3 gã khai tên là: Lê Văn Châu, Lương Văn Tiếu, Lò Văn Chinh. Còn tên bị thương là Lò Văn Lả. Hắn là kẻ chống lại cơ quan điều tra hung hăng nhất. Kiểm tra mấy túi vải đen, trinh sát phát hiện 2 cặp heroin. Bị lật tẩy, cả 3 tên bị bắt phải cúi đầu nhận tội và khai báo toàn bộ sự việc trước cơ quan điều tra. Là những thanh niên quen chơi bời rượu chè, cờ bạc đàn đúm suốt ngày, bọn chúng nghĩ bằng cách nào đó kiếm thật nhiều tiền chứ chẳng chịu làm ăn chân chính. Một hôm tên Lò Văn Lư đi chơi ở đâu về liền gọi mấy tên đồng bọn tới bàn bạc và bọn chúng quyết định đi buôn ma túy. Theo lời khai thì ở nhà anh vợ hắn là Quàng Văn Thanh đang có người cần mua ma túy nhờ hắn tìm mối hộ. Bàn tới, bàn lui. Cuối cùng bọn chúng thống nhất ngày hôm sau cả 6 tên tới nhà Vàng A Nếch ở Điện Biên, Lai Châu tìm hàng. Vàng A Nếch nhận lời và lên đường đi lấy hàng ngày làm cho cả bọn lả không khỏi vui mừng và cho một tên về báo cho Thanh biết đã có hàng, mang tiền lên để lấy. Được tin Thanh liền lấy xe Dream II, phóng lên Điện Biên, nhưng Vàng A Nếch vẫn chưa về. Giao tiền lại cho Lả và đồng bọn, Thanh quay trở về nhà để giữ khách hàng ở lại. Ăn chực nằm chờ mãi 3 tuần mới thấy Vàng A Nếch mang hàng về. Bọn chúng thỏa thuận với nhau giá là 8 nghìn đô la Mỹ 1 cắp heroin và 1,8 triệu đồng 1 kg thuốc phiện. Trong vụ này bọn Lả phải trả cho Vàng A Nếch là 16 nghìn đô la Mỹ và 13.680.000 đồng, nhưng bọn Lả mới chỉ đưa trước có 24 triệu đồng còn lại hẹn bán được hàng mới trả. Nhận hàng xong, Lả còn yêu cầu ông Vàng A Nếch cho cháu là A Sọ đưa bọn chúng về bằng đường rừng cho an toàn. Hôm ấy vừa đi tới Na Sen thì bọn chúng vào nhà ông Chống và xin ngủ lại, nhưng ông này có vẻ không đồng ý liền bị bọn chúng gây áp lực buộc ông nhận lời. Không ngờ chuyện xuyên rừng bí mật của bọn Lả đã bị cơ quan điều tra Điện Biên phát hiện vây bắt. Biết là tội buôn ma túy với khối lượng lớn không bị tử hình thì cũng bị chung thân, bọn chúng bàn nhau chống trả quyết liệt hòng thoát thân. Trở lại nhà Vàng A Nếch, sau khi các đối tượng đều bị bắt cơ quan điều tra Lai Châu khám phá nhà hắn thu được 7 nghìn đô la Mỹ, nhưng toàn là tiền giả, Vàng A Nếch còn khăng khăng chối tội, nhưng khi các nhân chứng được dẫn ra thì hắn mới giật mình, gục đầu xuống mồ hôi vã trên khuôn mặt già cả nhăn nheo.
Tri Dân -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Lễ hội Đền Hùng

Được tổ chức từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch (ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2000) tại đền thờ Vua Đinh và vua Lê thuộc hai thôn Trường Yên Thượng, Trường Yên Hạ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Lễ hội Trường Yên với lễ hội rước nước, trò cờ lau lập trận, thi kéo chữ, đu tiên, đấu vật và các hoạt động văn hóa du lịch. Lễ hội diễn ra nhằm tưởng nhớ hai vị vua đã có công thống nhất giang sơn, đem lại thái bình cho đất nước.
Được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tức là ngày 14 tháng 4, đây là lễ hội lớn nhất được Bộ văn hóa Thông tin kết hợp với ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức. Trong ngày mở đầu giỗ tổ có các tiết mục như múa rồng, hội thi làm bánh giầy, bánh chưng dâng Đức Quốc Tổ vua Hùng Vương tại Đền Thượng, nghi thức giỗ tổ có các mục chúa văn do nghệ sỹ nhân dân Tiến Thọ đọc, lễ phục, các mâm phẩm vật dâng cúng vua cha, đặc biệt là bánh chưng, bánh dầy thể hiện lòng hiếu thảo của người con Lang Liêu, mà nhân dân ta luôn tưởng nhớ. Bộ chính trị đã giao trọng trách cho chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh làm chủ lễ cùng với ông Nguyễn Khoa Điềm, Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ dâng hương. Sau lễ dâng hương là các hoạt động văn hóa, các trò chơi dân gian đặc sắc như bắn nỏ, thổi cơm thi, đu tiên, chọi gà, kéo lửa, múa lân, múa rồng, pháo đất, cướp cầu, cờ người… Lễ hội có đoàn 100 người tượng trưng cho 100 người con của Lạc Long Quân và u Cơ. Trang phục của lễ hội được 4 cơ quan tham gia thiết kế mẫu: Viện mẫu thời trang Fadin, Khoa dệt may thời trang trường Đại học Bách Khoa, Trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Trường đại học mỹ thuật Hà Nội. Lễ hội này có 5 bộ lễ phục dành cho chủ lễ, 1 bộ dành cho chấp lễ. Trấn hồ Đa Vao có tục cướp bưởi, cướp dừa để tưởng nhớ câu cướp bưởi cầu mưa, cướp dừa cầu nước. Buổi tối ở đền Hùng có thả đèn trời và có thể bắn pháo hoa 10 phút.
Festival Huế 2000
Được tổ chức từ ngày 8 đến ngày 19 tháng 4 năm 2000. Đây là lễ hội lớn nhất lần đầu tiên tổ chức tại Cố đô Huế một trong những di sản văn hóa thế giới. Festival Huế năm 2000 mang đậm sự giao lưu Việt – Pháp với nhiều chương trình phong phú và đặc sắc. Tối ngày 8 tháng 4, khoảng 500 nghệ sĩ và học sinh, sinh viên Huế đồng diễn trong đêm hội cố đô trên sân khấu lớn trước Ngọ Môn mở màn Festival. Hằng đêm trong Đại Nội có chương trình văn hóa nghệ thuật của hơn 800 nghệ sĩ, diễn viên Việt Nam và Pháp. 12 ngày Festival sẽ được tổ chức thành 4 tour, mỗi tour gồm có 9 chương trình nghệ thuật và 1 buổi dạ tiệc diễn ra tại nhiều địa điểm trong 3 ngày. Mỗi buổi dạ tiệc sẽ có 624 thực khách, cùng với những đầu bếp Việt Nam, các chuyên gia nấu ăn vùng Poitu – Charrante sẽ đem tới nghệ thuật ẩm thực Pháp. Ngoài ra, tại nhiều điểm trong thành Huế diễn ra các hoạt động Liên hoan tiếng hát sinh viên, Triển lãm cây cảnh và thư pháp. Triển lãm trang phục cung đình, triển lãm tranh ảnh về Huế, Hội chợ thương mại. Du khách có thể xem đua thuyền, nghệ thuật chơi diều, nghệ thuật chơi cây cảnh, tham quan các lăng, tẩm và các nhà vườn Huế. Festival Huế 2000 khép lại với lễ bế mạc mang tên Đêm Hoa Đăng trên dòng sông Hương Giang vào ngày 19 tháng 4.
PV -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Tuần làm việc đầu tiên của kỳ họp thứ 7 quốc hội khóa X

Sau phiên khai mạc các Đại biểu Quốc hội đã tập trung thảo luận báo cáo bổ sung của Chính phủ về tình hình thực hiện nhiệm vụ và ngân sách Nhà nước năm 1999, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2000 theo nghị quyết của quốc hội do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại phiên khai mạc. Nhìn chung các đại biểu đều tán thành với báo cáo của Chính phủ. Bên cạnh đó bổ sung nhiều ý kiến quan trọng về công tác điều hành của Chính phủ và đề nghị cần nêu rõ những khó khăn ở từng lĩnh vực, phân tích những nguyên nhân và tìm ra những giải pháp cụ thể để chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2000. Phần lớn các ý kiến tập trung vào vấn đề nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đề nghị chính phủ tìm những biện pháp giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ giá, tăng cường cơ sở chế biến nông sản, giúp tháo gỡ những khóa khăn trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của nông dân. Đảm bảo chính sách bảo trợ sản xuất trong nước, kích thích nông nghiệp phát triển… Chính phủ cần có quy hoạch cụ thể phát triển kinh tế của các vùng địa phương, đặc biệt chú trọng công tác chuyển đổi cơ cấu, nông nghiệp, phù hợp với đặc điểm của mỗi vùng, mỗi địa phương. Ngoài ra các đại biểu còn thảo luận các vấn đề tìm cách tháo gỡ những khó khăn trong giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định giá các mặt hàng thiết yếu, kích thích tiêu dùng trong dân, tiếp tục có những chính sách hữu hiệu thu hút đầu tư, ổn định sản xuất… Cũng trong tuần làm việc đầu tiên của kỳ họp, các đại biểu đã thảo luận và thông qua Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các ý kiến tập trung phân tích nguyên nhân chủ quan dẫn tới tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam suy giảm trong thời gian gần đây môi trường đầu tư nước ngoài ở nước ta chưa hấp dẫn, chi phí cho đầu tư còn cao so với mức bình quân tại các nước trong khu vực, công tác quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài của các ngành các cấp còn có những mặt hàng yếu kém và bất cập còn có những yếu kém và bất cập tạo ra những hạn chế về môi trường pháp lý…Ban soạn thảo đã giải trình và tiếp thu ý kiến của các Đại biểu quốc hội, trên cơ sở có những chỉnh lý, sửa đổi một số điều trong nội dung của Dự thảo luật nhằm góp phần khôi phục sự gia tăng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới.
Hoàng Ly -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Đà Lạt vươn mình thành một trung tâm

Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 15B/QĐ/TTg công nhận thành phố Đà Lạt là đô thị loại 2. Đây là một trong những cơ sở tạo tiền đề cho Đà Lạt phát triển thành một trung tâm đô thị sầm uất, phù hợp với vai trò, vị trí của Đà Lạt cũng như xu thế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng, của khu vực và cả nước. Hội nghị 5 năm thành tựu và kinh nghiệm phát triển của Hiệp hội các đô thị Việt Nam được tổ chức tại Thành phố Vũng Tàu đã coi định hướng phát triển quy hoạch Đà Lạt như một điển hình về sự năng động trong cơ cấu bố trí vốn và không gian quy hoạch.
Cách đây hơn một thế kỷ Đà Lạt được bác sĩ bao thăng trầm của lịch sử. Đà Lạt luôn là trung tâm kinh tế xã hội, quân sự trực thuộc Trung ương. Từ năm 1977 đến nay Đà Lạt là tỉnh lỵ thuộc tỉnh Lâm Đồng và may mắn là vào năm cuối cùng của thế kỷ này nó đã được nâng cấp thành đô thị loại 2 với định hướng và tốc độ phát triển khá thuận lợi. So với các đô thị loại 2, Đà Lạt đạt tiêu chuẩn 78 trên 100 điểm, trong đó có 5 chức năng, tiêu chí đạt số điểm tối đa là Chức năng đô thị 30 trên 30 điểm, chức năng ảnh hưởng vùng, quốc tế đạt 15 trên 15 điểm và tiêu chuẩn hệ thống cấp điện, chiếu sáng công, cấp nước đạt 10 trên 10 điểm, mật độ dân cư và nhà ở đạt 15 trên 15 điểm. Hội nghị 5 thành tựu và phát triển các đô thị của Hiệp hội các độ thị tỉnh lỵ Việt Nam tại Vũng Tàu năm 1999 đánh giá Đà Lạt là một trong 5 đô thị trên cả nước có tốc độ phát triển vượt bậc. Số du khách năm 1999 đến Đà Lạt đã tăng gần 22 lần so với năm 1976. GDP bình quân đầu người tăn từ 180 đô la Mỹ lên 520 đô la Mỹ năm 1999, đặc biệt GDP của cư dân nội thị đã đạt mức 900 đô la Mỹ. Cơ cấu kinh tế của Đà Lạt hiện nay vẫn là du lịch – dịch vụ là 68%, công nghiệp, xây dựng là 23% và nông lâm nghiệp là 18%. Trong vài năm trở lại đây, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đến với Đà Lạt khá nhiều. Ngoài 11 dự án đầu tư tổng vốn là 784,75 triệu đô la Mỹ và 166 tỷ đồng đang được triển khai còn có dự án lớn nhất từ trước là Đan Kia – Suối Vàng 706 đô la Mỹ. Bên cạnh đó các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang quan tâm nhiều đến dự án tổ hợp khu du lịch Tuyền Lâm rộng 2 nghìn héc ta, vốn đầu tư là 250 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra để thu hút khách du lịch đến Đà Lạt 4 dự án nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học vùng núi Lang Biang với tổng vốn đầu tư gần 135 triệu đô la Mỹ cũng sẽ được triển khai trong vài năm tới. Tính riêng về thu ngân sách, hàng năm ngân sách trên địa bàn Đà Lạt chiếm từ 40 đến 45% so với ngân sách toàn tỉnh Lâm Đồng. Nếu như năm 1993 tổng thu ngân sách của Đà Lạt chỉ đạt gần 68 tỷ đồng thì đến cuối năm 1998, con số tương ứng đã lên tới 170,995 tỷ đồng. Ngoài du lịch dịch vụ, việc sản xuất hoa đặc sản chiếm 50% diện tích trồng hoa cả tỉnh Lâm Đồng. Hàng năm Đà Lạt đã xuất khẩu trên 1,2 triệu cành hoa và khoảng 120 nghìn tấn rau các loại. The dự báo của các chuyên gia kinh tế, để Đà Lạt phát triển phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội, trong vòng 10 năm tới nhu cầu vốn đầu tư phát triển Đà Lạt vào khoảng 10 nghìn tỷ đồng. Trong tổng nhu cầu này sẽ có khoảng 2 nghìn tỷ đồng huy động từ nhân dân và các doanh nghiệp, 2 nghìn tỷ đồng vốn gần dụng, 3 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách, 4 trăm tỷ đồng vốn ODA và 2 nghìn 6 trăm tỷ đồng vốn FDI. Cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội Đà Lạt đang từng ngày từng giờ phát triển. Định hướng quy hoạch đô thị Đà Lạt từ nay đến năm 2010 đã được hoạch định. Vươn mình thành một trung tâm trong khu vực Đông Nam Bộ và Đông Nam Á giấc mơ của Đà Lạt đang dần vào hiện thực.
Thế Hưng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(132)2000.