Một chút với “học quên để nhớ”

“Độc đáo và hấp dẫn”! Đó là nhận xét chung của nhiều người khi cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình “Học quên để nhớ” của nhà thơ Đặng Vương Hưng.
Quả là độc đáo khi trong hơn 100 trang in khổ nhỏ, ngoài 39 bài lục bát chọn lọc, còn có sự góp mặt của hơn 30 tác giả, là nhà thơ, nhà văn, nhà báo… với những lời bình sâu sắc và tinh tế. Tôi không dám nhận xét bài nào hay, bài nào chưa, mà chỉ muốn nói rằng, với cách đưa các lời bình vào tập thơ, Đặng Vương Hưng đã cho người đọc một cơ hội hiểu rằng, cách cảm nhận về cùng một bài thơ thật vô cùng phong phú, phần nào mang dáng dấp cá tính, trạng huống và hoàn cảnh của người đọc. Bởi đôi khi, cùng một bài thơ mà có sự thẩm định hoàn toàn dị biệt. Có lẽ, đây cũng là thành công của nhà thơ khi đã mạnh dạng dâng tặng bạn đọc một món ăn tinh thần đầy sáng tạo. Chả thế mà ngay sau khi “trình làng”, đã có khoảng 3.000 lá thư gửi về 100 Yết Kiêu xin được tặng và mua sách. Hẳn rằng, số tác giả có được niềm hạnh phúc này không nhiều!
Bên cạnh sự độc đáo, còn một điều nữa khiến tập thơ dễ dàng được công chúng đón nhận: Sự hấp dẫn của từng bài thơ. Hơn 10 năm trước, những bài thơ “Nỗi nhớ”, “Lại xa”, “Viết cho em từ biên giới” đã được không ít sinh viên thuộc lòng. Nhiều người vì yêu thơ mà… mến tác giả dù chưa gặp mặt. Đến nỗi, trong tập thơ chọn này, có bạn đọc đã viết thư “chất vấn” tác giả vì sao lại cắt bỏ 6 câu trong một bài đã đăng từ 10 năm trước!
“Văn học là nhân học”! Thơ Hưng phản ánh rõ nét con người, tình cảm của anh: dung dị, chân thành và dễ thương. Trong thơ, Hưng không giấu được mình. Những dấu ấn trong thời lính in hằn thật rõ với nỗi buồn, nhớ quê hương, nơi có người vợ tần tảo, rất mực thương yêu của anh ngóng đợi. Tâm trạng anh vương trong từng câu thơ, đằm thắm và da diết, trong sáng và hồn hậu như cuộc sống của người lính vùng biên.
“Phiên gác thức với đêm dài
Thời gian trôi chậm gấp hai ở nhà”
(Viết cho em từ biên giới)
Sự trải nghiệm của cuộc sống với bao suy tư, day dứt âm thầm cũng đằm sâu trong thơ Hưng khi anh “Từ rừng về phố”. Mỗi câu thơ như chứa chất tâm sự khắc khoải và bất an, khát khao và đau khổ. Trái tim thi sĩ đã luôn luôn nhạy cảm để rung lên khát vọng đời mình, có khi chỉ vì một lần “Lỗi hẹn”, hay “Nhớ Hải Phòng” hoặc dành nỗi niềm “Gửi người trong mơ”… Nhưng đáng nói là, trải nghiệm rồi, cùng với dáng nét, âm hưởng khác là sự có nghề hơn trong thơ Hưng. Nhiều bài, mới đọc, cứ tưởng là vu vơ như câu chuyện đi ở trọ một đêm, vậy mà, bất ngờ buông ra lời giãi bày xa xót đến nao lòng:
“Em đi ở trọ người ta
Còn tôi ở trọ ngay nhà mình thôi”
(Ở trọ)
Ở bài khác, anh bắt đầu “Giá như đời cũng như mơ”, hết sức dông dài, ngỡ sẽ là một ước ao hạnh phúc như thường gặp. Thế mà, lời kết lại trầm xuống trong tiếng vọng thẳm sâu, lắng lại trong lòng người đọc:
“Nếu như chưa vợ chưa chồng
Liệu rằng em có bằng lòng yêu anh?”
Trong mỗi bài thơ của Hưng, người đọc đều có thể tìm ở đó bóng dáng, tâm trạng mình, để lấy đó làm nguồn vui, sự an ủi hay điểm tựa vươn lên. Hơn 20 năm làm thơ, Hưng đã trải lòng ra với cuộc đời, để sẻ chia cùng mọi người, cũng là để “bâng khuâng bừng thức, lắng suy và chiêm nghiệm” (Nguyễn Trọng Hoàn) trước cuộc sống còn nhiều bộn bề và:
“Tôi giờ còn lại chiêm bao
Cố trần tục để thanh tao kiếp người”
(Học quên để nhớ)
Một chữ “cố” gửi trong câu thơ, đủ nói được trái tim tinh tế của Hưng phải vĩnh viễn thuộc về nàng thơ, không thể khác!
Hội an trong lòng người nhật
Tại thành phốNagoya (Nhật Bản), ở một ngôi chùa cổ, có giữ một bức tranh thêu vải dài 5 mét và cao 80cm. Bức tranh thêu mô tả quang cảnh bến cảng, mọi người đang bốc xếp hàng hóa, và có những ngôi nhà hai tầng kiểu Nhật Bản. Theo ông Minaka – một nhà nghiên cứu Nhật, đó là cảnh thị xã Hội An của Việt Nam.
Thời ấy, một thương nhân Nhật là Kioshuro cùng với 300 người đã lên tàu rời cảng Nagasaki, họ đến Việt Nam mất 40 người đi biển. Nhật Bản lúc ấy chỉ sản xuất thứ vải Satsumaka, màu xanh nhạt hoặc màu chàm, trang trí hình chim muông, hoa, lá… Sau đó, xuất hiện loại vải bông sọc, trang trí lạ mắt và được dùng trong tranh khắc gỗ. Loại vải này có nguồn gốc từ sự giao lưu với Đông Nam Á, mãi đến thế kỷ 19 bị cơ giới hóa làm cho mất đi.
Trong sử thời vua Êdo có ghi lại, năm 1631, ông Kirôtê, một thương nhân Nhật Bản đã sang định cư tại Hội An. Ông lấy vợ là người Việt. Hàng hóa ông gửi về Nhật gồm có vải bông sọc và trầu, ngược lại ông cũng yêu cầu gửi sang đồ ăn và quần áo…
Hội An như thế đã có mối quan hệ giao lưu lâu đời với người Nhật, là xuất xứ của loại vải bông sọc ở Nhật, một mặt hàng có giá trị truyền thống cao.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Du lịch kinh tế mũi nhọn

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn báo du lịch: Chúng ta cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phóng viên: Thưa tổng Bí thư, trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Ban chấp hành Trung ương xây dựng để trình Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng có nhấn mạnh cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Xin tổng bí thư nói với độc giả rõ hơn về vấn đề này?
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Những năm gần đây Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy du lịch phát triển. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ra Chỉ thị 46 – CT/ TW (ngày 14/ 10/ 1994) về “Lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới”. Gần đây, ngày 11/ 11/1998 Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã thảo luận và nhất trí với kết luận một số định hướng lớn phát triển du lịch trong tình hình mới. Thực hiện các chủ trương trên Nhà nước đã ban hành pháp lệnh Du lịch, thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, xây dựng nhiều kế hoạch hành động thiết thực. Nhờ vậy trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới kinh tế.
Mục tiêu lớn nhất về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước ta trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo quy định theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng về mọi mặt để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện thành công chiến lược này, ngành Du lịch với một số ngành dịch vụ có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng cường tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Vì thế, chúng ta cần phải phát triển Du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phóng viên: Để ngành du lịch xứng đáng với vị trí mới này, xin Tổng Bí thư cho biết ngành Du lịch cần phải làm gì?
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, cần giữ mức tăng trưởng tổng doanh thu của ngành trong giai đoạn này từ 9 – 10%/ năm thông qua nâng cao chất lượng và hiệu quả du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử. Cần liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch nhằm tạo động lực tổng hợp thúc đẩy du lịch phát triển. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Chúng ta cần xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch./
Phóng viên: Xin cảm ơn Tổng Bí thư.
Du lịch
Tích cực tham gia các hội chợ và các sự kiện du lịch quốc tế. Tổ chức phát động thị trường du lịch ở các thị trường mới và giàu tiềm năng. Tăng cường mối quan hệ giữa lữ hành và khách sạn… Các trung tâm lữ hành sẽ ưu tiên đưa khách đến các khách sạn có chất lượng phục vụ tốt, giá cả phải chăng. Các khách sạn cần nâng cấp, nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả quản lý để có sản phẩm du lịch chất lượng cao. Các hoạt động lữ hành phải gắn với các loại hình vận tải chuyển khách; đường không, đường sắt, đường thủy và các khu vui chơi giải trí, tạo thành hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao, hấp dẫn.
Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên để đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch các chương trình du lịch. Cải tiến các thủ tục ra vào của khách hơn nữa, tạo thuận lợi cho khách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động lữ hành.
Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các nước. Tiến hành nối mạng Internet, nâng cao chất lượng quản lý, phục vụ khách.
Ngăn chặn hiện tượng lợi dụng danh nghĩa chỉ làm visa cho người nước ngoài núp bóng, làm điều phối viên và các hoạt động không lành mạnh khác…
Hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ có bước phát triển mới, góp phần cùng toàn ngành phấn đấu năm 2001 đạt mục tiêu đón 2,2 triệu lượt khách quốc tế, để Ngành du lịch xứng đáng là ngành kinh tế tổng hợp, kinh tế mũi nhọn của đất nước, để trong vòng vài năm tới du lịch Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến về du lịch trong khu vực, để Việt Nam là Điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Du lịch trên kênh đào Erie
Vào đầu thế kỷ 19, kênh đào là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của hành khách lẫn hàng hóa và cũng tạo cho du lịch đường thủy phát triển.
Kênh đào Erie là kênh đào nổi tiếng nhất nước Mỹ, được khởi công vào năm 1817. Sau 8 năm lao động vất vả của hàng trăm công nhân, kênh được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1825. Kênh Erie chạy suốt từ sông Hudson ở Albany (New York) đến hồ Erie ở Buffalo dài 363 dặm (khoảng 584 km).
Đi du lịch bằng thuyền trên kênh Erie rất thú vị nhưng cũng có những bất tiện, đó là phần lớn các cầu trên kênh đào đều thấp, do đó khi đi qua các cầu trên kênh đào hành khách phải nằm bẹp xuống hoặc chịu nguy cơ bị quét khỏi tàu. Mặc dù có những bất tiện trên, nhưng kênh đào Erie hàng năm vẫn thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan.
Hoàng Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Có chuyển biến những chưa đạt yêu cầu

Tình hình thực hiện chỉ thị 07 của thủ tướng chính phủ có chuyển biến những chưa đạt yêu cầu.
Từ tháng 6/2000, thanh tra Tổng cục Du lịch (TCDL) đã hướng dẫn thanh tra địa phương tham mưu với các sở du lịch, Sở Thương mại du lịch lập chương trình thực hiện chỉ thị (CT) 07, chủ động kiểm tra xử lý vi phạm. Nhìn chung, các sở đều lập kế hoạch thực hiện CT07 trình Ủy ban nhân dân tỉnh, TP phê duyệt. Trên cơ sở đó Sở phối hợp với các ngành liên qua lập đoàn kiểm tra, tuyên truyền đến tận địa phương có điểm du lịch và cơ sở kinh doanh du lịch. Bước đầu, các tệ nạn ăn xin, cờ bạc… đã giảm. vệ sinh môi trường được quan tâm giải quyết. Những nơi làm tốt là khu du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, các điểm du lịch của tỉnh Lâm Đồng, hồ Ba Bể ( Bắc Kạn), Bãi Cháy (Quảng Ninh)… nhiều trung tâm du lịch lớn đã đấu tranh mạnh với tội phạm hình sự và tệ nạn ảnh hưởng đến khách du lịch. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh yêu cầu Công an TP kiên quyết trấn áp các đối tượng cướp giật tài sản người nước ngoài tại ngay trung tâm TP. Thực hiện chỉ đạo củaỦy ban nhân dân TP. Hà Nội, hai Sở Công an và Lao động – Thương binh và xã hội đã khảo sát nạn ép mua, ép giá khách du lịch đề xuất biện pháp giải quyết.
Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh du lịch. Tại khu du lịch Đồ Sơn (TP. Hải Phòng), nước thải từ hơn 50 khách sạn và 200 nhà hàng không hề qua xử lý cộng với xăng dầu, rác của tàu thuyền đổ thẳng xuống biển gây ra ô nhiễm bãi tắm 2, 3. Những ngày cao điểm lượng rác của thị xã Đồ Sơn lên tới 80 – 100 tấn, những khả năng thu gọn thì chỉ đạt 40%. Đối với khu du lịch Cát Bà TP. Hải Phòng, Ban quản lý rừng Quốc gia Cát Bà không có lực lượng hướng dẫn chuyên nghiệp nên du khách chưa được đảm bảo an toàn. Kiểm tra một số khách sạn tại TP. Đà Nẵng cho thấy khâu quản lý, bảo quản thực phẩm và kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm còn yếu. Đa số các khách sạn chưa có tủ lưu mẫu thực phẩm và thực hiện lưu mẫu trong ngày để kiểm giám sát đề phòng ngộ độc. Tại Chùa Vĩnh Long, bến đò Cửu Long, chùa Sắc Tứ tỉnh Tiền Giang… còn nhiều trẻ em đeo bám khách nước ngoài để xin tiền. Nạn cò mồi tranh giành khách vẫn diễn ra…
Thứ trưởng bộ lao động – Thương binh và Xã hội Đàm Hữu Đắc nhận xét: Hiện tượng người lang thang ăn xin đeo bám khách du lịch là một vấn đề xã hội bức xúc đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan trung ương và địa phương kèm theo giải pháp đồng bộ, kiên trì, nhưng cơ chế tài chính hiện nay thì rất khó thực hiện. Ông Đắc đề nghị chính phủ cho phép các ngành thực hiện CT07 (Tổng cục du lịch, bộ công an, bộ lao động thương binh và xã hội) được hỗ trợ nguồn tài chính để tập trung giải quyết hiệu quả cao hơn.
Về phía ngành du lịch, thanh tra tổng cục du lịch đã đề xuất với tổng cục thành lập ban chỉ đạo thực hiện CT07 tiến tới ra đời đoàn kiểm tra liên ngành cấp trung ương và địa phương. Tổng cục du lịch cần tác động tới UBND tỉnh, các thành phố chưa quan tâm phải có kế hoạch triển khai CT07 cương quyết xử lý trường hợp vi phạm. Ngành du lịch cũng cần chủ động phối hợp chặt chẽ với bộ lao động – Thương binh và xã hội, Công an, Văn hóa- thông tin, tài chính… thực hiện CT07 và quy định rõ nguồn tài chính dành cho công tác này.
Để ngành du lịch phát triển bền vững, các cấp, ngành và toàn xã hội cần phải thực hiện CT07 một cách nghiêm túc. Ở đây, trách nhiệm chính thuộc về ban lãnh đạo chính quyền địa phương. Và nhận thức của lãnh đạo các ngành liên quan cũng phải hết sức đúng mức.
Nguyễn Phạm – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Giá như đồ sơn…

Tôi đến Đồ Sơn vào một ngày tháng 4 năm 2001. Đồ Sơn chưa vào mùa du lịch. Cảm quan chung của tôi thật là lẫn lộn. Thị xã đẹp, sạch và thoáng đãng… Đúng là sơn thủy hữu tình nhưng chưa thực non xanh nước biết. Vẫn biết căn nguyên và giải pháp cho vấn đề nước biển đục đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cấp quản lý quan tâm xem xét, nhưng hiện còn lực bất tòng tâm. Tuy nhiên, dường như các sự vì sao non chưa xanh thì lại chưa được quan tâm đúng mức. Trên Cửu Long Sơn chỉ có Đỉnh Vạn Hoa là xanh thật xanh, mượt mà, say đắm. Xanh thâm trầm của thông, xanh nõn nà của keo lá chàm hòa vào nhau như hút hồn du khách. Bên cạnh, một Casinô Đồ Sơn duyên dáng về kiến trúc, rực rỡ hoa, rừng cây trên đỉnh Vạn Hoa như một nốt nhấn trầm; làm đa dạng và hài hòa thêm tổng thể quan cảnh du lịch. Nơi đây gió, nắng ban ngày và điện sáng ban đêm như tấm áo choàng hoàn mỹ, càng làm cho Vạn Hoa rực rỡ và hấp dẫn hơn.
Đối ngược với Vạn Hoa, Đỉnh Long Sơn và những dấu tích còn lại của tháp Tường Long thật nghèo rừng. Chỉ có cây bụi lúp xúp xen lẫn những vạt đất canh tác nông nghiệp vàng bủng lơ thơ lá. Tháp Tường Long khiêm nhường nằm ẩn mình sau một ngôi chùa nhỏ, lối đi không có một tấm biển báo chỉ đường. Đỉnh Long Sơn còn cao hơn Vạn Hoa, cũng nhiều nắng, nhiều gió, nhưng chỉ nhấn thêm vào sự trơ trụi, nghèo nàn của cảnh quan và làm phiền lòng du khách mà thôi.
Những ngọn núi còn lại của Cửu Long Sơn và núi Độc cũng thưa thớt cây, khó có thể gọi đó là rừng lá non xanh được. Ngay cả Rừng Thông hiện cũng xơ xác, tiêu điều. Những lối mòn lên núi, vào rừng hầu như không có khiến những du khách ưa phiêu lưu, mạo hiểm muốn tiêu khiển trèo núi, lên non vào những giờ không ra được biển đã hoàn toàn thất vọng.
Bị cuốn hút bởi màu xanh của Hòn Dáu, tôi xuống tàu làm một cuộc du ngoạn, hy vọng có được một sự hài lòng trước khi chia tay Đồ Sơn. Nào ngờ một đoạn đường con con từ mép nước lên tới ngọn hải đăng tôi phải 3 lần mở hầu bao mua vé du lịch: nào là vé lên đảo 3.000đ/người; vé vào khu đảo đèn 3.000đ/người; vé lên tham quan tháp đèn 3.000đ/người. Chưa nói tới việc giá tiền vé to nhỏ ra sao, chỉ riêng việc liên tục phải mua vé cũng đã khiến tôi có cảm giác như mình bị lừa, bị móc túi trắng trợn. Chẳng còn đâu tâm trạng để hòa mình cùng thiên nhiên hoang dã, tôi ra về lòng đầy nuối tiếc. Giá như…
Giá như núi Đồ Sơn đều có rừng cây xanh, giá như rừng có nhiều lối mòn dạo chơi nho nhỏ, có dịch vụ thuê võng cho những du khách ưa sống một ngày với rừng; Giá như đường bờ biển Đồ Sơn nơi nào cũng có rặng dừa nghiêng nghiêng soi bóng, đêm đêm sáng đèn, không có người bán hàng rong vừa chèo kéo nài nỉ làm phiền lòng khách, vừa hay vứt rác bừa bãi ra biển; Giá như mọi điểm danh thắng, văn hóa đều được quản lý thống nhất, có hướng dẫn rõ ràng cho du khách; Giá như hoạt động của đội ngũ xe ngựa và xích lô được tổ chức bài bản và khai thác hợp lý hơn…
Đồ Sơn có một giá trị vị thế đặc biệt, giao thông thuận lợi. Tiềm năng du lịch Đồ Sơn rất lớn và đa dạng. Mong sao các chủ nhân Đồ Sơn biết khai thác bền vững và hiệu quả nguồn tài nguyên này, vừa có lợi cho chính Đồ Sơn, vừa làm “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”.
Bến en – điểm du lịch sinh thái hấp dẫn và bổ ích
Nếu bạn đã từng đặt chân lên đất Thanh, chắc chắn bạn sẽ không quên được Sầm Sơn – khu du lịch biển khá nổi tiếng. Và bây giờ, vào bất cứ thời gian nào nếu bạn muốn thử sức mình, hãy đến với Vườn quốc gia Bến En – nằm cách thành phố Thanh Hóa 36 km về hướng Tây Nam, theo quốc lộ 45.
Vườn Quốc gia Bến En thuộc xã Hải Vân, huyện Như Thanh – tỉnh Thanh Hóa. Đây là khu du lịch rất hấp dẫn và bổ ích với diện tích rừng trải rộng trên 16.634 ha; trong đó gần 4000 ha vùng hồ sông Mực, bao gồm 21 đảo nổi, hang động thơ mộng. Đến đây bạn sẽ được hòa mình vào thiên nhiên với những rừng cây nguyên sinh hoặc được nô đùa với những đàn nai, hoẵng, những chú khỉ xinh xắn và nghịch ngợm.
Nếu bạn là người ưa mạo hiểm, phiêu lưu, Bến En là nơi rất thích hợp với bạn. Bạn sẽ được du thám, leo trèo trên những núi đá cheo leo, bơi thuyền trên dòng sông êm ả trong xanh; hoặc vừa câu cá hay bơi lội, vừa nghe tiếng chim hót rộn ràng, tiếng nai hoẵng gọi đàn, tiếng đàn ong bay đi tìm mật…
Vào mùa hè, bầu trời nơi đây thật trong xanh với những dải mây trằng bồng bềnh như những thảm bông xốp lững lờ trên rừng cây xa vời vợi; gió mang hơi nước từ trăm khe ngàn suối, từ lòng sông thổi lên mát rượi.
Bạn có thể thả mình trên những thảm cỏ mượt mà để hưởng những điều kỳ thú mà thiên nhiên hoang dã đem lại.
Nhưng vào mùa đông, những khu rừng lại đem đến cho bạn sự ấm áp và tĩnh lặng. Bạn có thể cắm trại vui chơi qua đêm mà không gặp bất cứ một trở ngại nào.
Không những thế, đến với Vườn quốc gia Bến En, bạn còn được tham quan những khu di tích lịch sử, văn hóa từ ngàn xưa như hang Lò Cao chiến thắng Hải Vân; đền Mẫu Phủ Sung, Đền Ngã ba Khe Rồng… Gốc tích có từ thời nhà Lê, những hang Ngọc, cây lim ngàn tuổi… sẵn sàng chào đón bạn và bạn sẽ có những ấn tượng khó quên khi rời khỏi nơi đây.
Bất cứ mùa nào, nếu bạn đến với khu du lịch Vườn Quốc gia Bến En, bạn sẽ được thư giãn, cảm thấy thoải mái, khỏe khoắn và yêu đời hơn.
Bảo Châu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Bạn phải làm gì khi gặp tình huống đặc biệt khẩn cấp?

Trên đường đi du lịch, đôi khi những hướng dẫn viên gặp những tình huống đặc biệt khẩn cấp, đòi hỏi họ phải hết sức bình tĩnh giải quyết. Báo Du Lịch xin tư vấn cùng các bạn cách giải quyết một số tình huống:
Tình huống 1: Khi trong đoàn khách của bạn có người phạm pháp.
Đối với những trường hợp nghiêm trọng như khách có hành vi ăn cắp, say rượu đặp phá, sử dụng ma túy hay buôn lậu bị cơ quan an ninh hoặc các cơ quan chức năng có thẩm quyền bắt quả tang, người hướng dẫn có thể thực hiện theo phương châm đã được in trong sách giới thiệu của tất cả các công ty du lịch: “Công ty có quyền chấm dứt tour du lịch của bất kỳ du khách nào có hành vi phạm pháp, phá vỡ tiến trình của chuyến thăm quan”. Tuy nhiên, bạn cần phải lưu ý, việc chấm dứt tour của khách là một vấn đề nghiêm túc, bởi vì điều đó có thể dẫn bạn và công ty của bạn đến bị kiện cáo. Bởi vậy, trước khi công ty ra quyết định chấm dứt tour du lịch của khách có hành vi vi phạm pháp luật và an ninh kể trên, bạn phải báo cáo rõ cho lãnh đạo công ty của mình biết và nhớ ghi đầy đủ những hành vi vi phạm của khách. Đồng thời ghi rõ tên, địa chỉ, chữ ký xác nhận của những người làm chứng.
Tình huống 2: Khi đoàn khách của bạn gặp tai nạn giao thông trong đoàn có vài trường hợp khách bị thương từ nhẹ đến nặng.
Trên đường du lịch, nếu đoàn khách của bạn gặp tai nạn giao thông, trước hết, bạn phải bình tĩnh tìm mọi cách đưa nạn nhân tới các điểm y tế gần nhất để sơ cứu. Trong trường hợp có người bị thương nặng, bạn hãy tìm phương tiện chuyển ngay nạn nhân đến bệnh viện gần nhất. Sau đó, bạn lập một biên bản xác nhận mọi tình tiết lúc xe bị nạn với đầy đủ chữ ký của Trưởng đoàn khách, những người chứng kiến sự việc và các nhà chức trách địa phương như Cảnh sát giao thông, Bảo hiểm xã hội, Ngoại vụ… (nếu có). Tiếp theo, hãy thông báo tin nhanh nhất về công ty du lịch của mình và thông báo cho cơ quan chủ quản của khách biết để hai bên cùng phối hợp giải quyết. Cuối cùng, lập biên bản xác nhận tài sản của nạn nhân đã phải đi viện và tìm phương tiện giao thông khác để tiếp tục chương trình cho khách.
Tình huống 3: Khi trong đoàn khách của bạn có người tử vong.
Trong trường hợp này bạn hãy báo ngay cho cảnh sát, chính quyền địa phương, đồng thời báo cáo cho lãnh đạo công ty của mình biết để công ty báo tin cho lãnh sự quán của nước bạn, gia đình, bạn bè của người quá cố. Bạn tìm mọi cách để an ủi những người còn lại và hướng suy nghĩ của họ vào chuyến tour. Cuối cùng, ở lại với người bị nạn cho tới khi biên bản của cảnh sát, chính quyền địa phương hoặc lãnh sự đã hoàn thành và các nhà chức trách nhận thi thể người bị nạn. Bạn hãy tỏ ra tế nhị và thông cảm hơn đối với những người đồng hành của người đã chết…
Kiên giang: đón 11.804 lượt khách du lịch quốc tế
Quý I/2001, tỉnh Kiên Giang đón 11.804 lượt khách du lịch quốc tế, là địa phương có lượng khách du lịch quốc tế vào loại cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tỉnh Kiên Giang đầu tư nâng cấp tàu biển để mở thêm các tuyến điểm tham quan du lịch tới các hòn đảo như Lại Sơn, Hòn Tre, Hòn Nghệ. Riêng huyện đảo Phú Quốc, hiện nay, mỗi tuần có 7 chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh – Phú Quốc – Rạch Giá nhưng vẫn không đủ chỗ phục vụ khách. Hai trọng điểm du lịch chủ yếu của tỉnh Hà Tiên – Phú Quốc, trong vòng 3 năm gần đây được đầu tư bằng nguồn vốn của tỉnh, vốn liên doanh trong nước, đã từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách. Đặc biệt, thế mạnh về du lịch sinh thái đang thu hút ngày càng nhiều khách, nên một số lều quán, cảnh lấn chiếm xây cất không theo quy hoạch ở những khu du lịch cũng được tháo dỡ, trả lại mỹ quan và môi trường trong lành cho du khách.
BÁO DU LỊCH – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Khai thác thị trường du lịch

Xứ Lạng, có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng, có nhiều hang động kỳ thú và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc…, cho phép tỉnh có thể khai thác phát triển đa dạng các loại hình du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan vãn cảnh, du lịch leo núi, du lịch hang động, du lịch thương mại và quá cảnh… trở thành trung tâm hấp dẫn của vùng Đông Bắc Việt Nam.
Ngoài tiềm năng du lịch, địa phương còn liền kề với thị trường du lịch rộng lớn đó ở Trung Quốc. Do đó, những năm qua, khách quốc tế đến Lạng Sơn chủ yếu là khách du lịch Trung Quốc. Đặc biệt từ khi quyết định 229 của tổng cục du lịch Trung Quốc vào tham quan một số tỉnh thành của Việt Nam bằng thẻ du lịch, thì du lịch Lạng Sơn càng có cơ hội để vươn lên. Lượng khách và doanh thu du lịch của Lạng Sơn tăng trưởng đáng kể: Năm 1995 đón được 95.000 lượt khách, doanh thu đạt 45,5 tỷ đồng, năm 2000 đón 180.000 lượt khách (trong đó khách quốc tế 60.000 lượt), doanh thu đạt 74 tỷ đồng. Quý I năm 2001 Lạng Sơn đã đón 57.600 lượt khách trong đó khách quốc tế đạt 22.000 lượt, doanh thu đạt 29,5 tỷ đồng tăng 148,8% so với cùng kỳ năm 2000 và đạt 34,7% kế hoạch năm 2001.
Thị trường khách du lịch Trung Quốc có nhiều thuận lợi như sự gần gũi về địa lý, văn hóa, phong tục tập quán nên khai thác tốt nguồn khách du lịch từ đất nước đông dân nhất thế giới này, du lịch Lạng Sơn sẽ có cơ hội cất cánh vươn lên. Xứ Lạng đã trở thành xứ sở thương mại , du lịch là điểm hẹn của các tầng lớp trong nước và ngoài nước. Khi đến Lạng Sơn, hầu hết khách du lịch đến Lạng Sơn, hầu hết du khách Trung Quốc đều muốn nối tour đi tham quan những địa danh nổi tiếng của Việt Nam như: Hà Nội – Hải Phòng và đặc biệt là Vịnh Hạ Long – kỳ quan của thế giới. Du lịch Lạng Sơn hoàn toàn đáp ứng được nguyện vọng đó nên đã tạo ra một luồng sinh khí mới để thu hút khách du lịch Trung Quốc.
Nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc ngày càng phồn thịnh cùng với chính sách mở cửa nên nhu cầu đi du lịch của công dân hai nước ngày một tăng. Có thể nói đây là cơ hội tốt để du lịch Lạng Sơn có bước tiến mới cả về lượng và chất ngay từ nhưng năm đầu của thế kỷ 21.
Cùng với việc khai thác các nguồn du lịch thì hiện nay, du lịch Lạng Sơn đang tranh thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp trên để phối hợp với các ngành chức năng trên địa bàn triển khai thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lịch, Nghị quyết của ban thường vụ tỉnh ủy về nhiệm vụ phát triển du lịch đến năm 2010; Chương trình hành động phát triển du lịch của Ủy ban nhân dân tỉnh đến năm 2005, từng bước biến các nội dung của nghị quyết và chương trình hành động đó đi vào cuộc sống và phục vụ khách du lịch. Ngành du lịch Lạng Sơn đang tập trung xây các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch Mẫu Sơn, Khu du lịch Nhị Tam Thanh: Thành Nhà Mạc, tôn tạo nâng cấp danh thắng Mai Sao Phong Động… tạo ra các khu, điểm tham quan du lịch mới hấp dẫn hơn, chú trọng khai thác phát triển các sản phẩm mang đặc thù Lạng Sơn, tăng cường công tác tiếp thị quảng cáo, tích cực đào tạo và đào tạo lại đội ngũ Cán bộ công nhân viên.
Bước vào thiên niên kỷ mới với nhiều thời cơ mới, du lịch Lạng Sơn mong muốn đón nhận được sự quan tâm chỉ đạo nhiều hơn nữa của Chính Phủ, tổng cục du lịch, các bộ, ngành trung ương và địa phương. Đồng thời, được hợp tác chặt chẽ với các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để đầu tư, khai thác các dự án phát triển du lịch Lạng Sơn , phối hợp với các doanh nghiệp du lịch các tỉnh, thành trong cả nước nối tour, tuyến du lịch từ các địa phương khác đến Lạng Sơn và đi tham quan du lịch Trung Quốc. Đồng thời, khai thác và nối tour đón, đưa du khách du lịch Trung Quốc đi tham quan du lịch tại các địa phương.
Lương Đăng Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Cung văn hóa lao động hữu nghị Việt – Xô

Bông hoa giữa lòng thành phố
Ngày 1/5/1938, tại khu Đấu Xảo, Hà Nội đã diễn ra cuộc mít tinh của gần 3 vạn công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Đây là cuộc biểu dương sức mạnh lớn nhất nhân ngày Quốc tế Lao động, do giai cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức.
Năm 1985, cũng tại nơi này, một công trình kiến trúc văn hóa đồ sộ mang tên “Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt – Xô” đã được khánh thành và đi vào hoạt động. Công trình là quà tặng của Hội đồng Trung ương các công đoàn Liên Xô (cũ) cho giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam. 15 năm qua, kể từ ngày thành lập, Cán bộ công nhân viên Cung đã không ngừng phấn đấu vươn lên, phát huy truyền thống tốt đẹp vốn có, vượt qua mọi thử thách để xứng đáng là nơi thắp sáng ngọn lửa tinh thần cho người lao động và nhân dân trong cả nước. Là một đơn vị sự nghiệp văn hóa phải tự hạch toán, lại hoạt động trước bối cảnh phần lớn các Nhà văn hóa trên toàn quốc đều nằm trong tình trạng vắng khách, nhưng kết quả mà đơn vị đạt được vẫn rất đáng tự hào. Năm 2000, Cung đã tổ chức thành công 18 cuộc giao lưu, 33 cuộc biểu diễn nghệ thuật, duy trì hoạt động 26 CLB sở thích. Tổng thu từ các hoạt động dịch vụ kinh tế, phục vụ biểu diễn đạt 8.279.381.843 đồng. Đời sống của Cán bộ công nhân viên tương đối ổn định với mức lương thu nhập bình quân 700 đến 800 nghìn đồng/người/tháng. Bí quyết nào đã giúp Cung Văn hóa Lao động Hà Nội Việt Xô làm được điều đó?
Từ năm 1990, Cung Văn hóa từng đứng trước một khó khăn lớn: đơn vị hoạt động không còn được “bao cấp” như trước, ảnh hưởng của thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế đã kéo theo sự giảm sút đáng kể của các hoạt động tổ chức biểu diễn. Thêm vào đó, sau một thời gian hoạt động, cơ sở vật chất trong Cung bắt đầu xuống cấp. Lúc này, một câu hỏi đặt ra cho lãnh đạo Cung là làm thế nào để có kinh phí, vừa trả lương cho Cán bộ công nhân viên vừa có thể duy trì và phát triển các hoạt động, làm tròn nhiệm vụ được giao? Khó khăn không ngăn được lòng người. Trước tình hình trên, Ban Giám đốc Cung Văn hóa đã hoạch định ngay cho đơn vị mình một cách làm mang tính chiến lược với phương châm “văn hóa gắn với kinh tế”. Từ đó mạnh dạn tận dụng ưu thế mặt bằng vốn có với diện tích 3,2ha, sắp xếp các điểm hợp lý để khai thác các hoạt động dịch vụ văn hóa, hội nghị, hội thảo, triển lãm, hội chợ… để tăng nguồn thu. Nhận thức rõ vai trò công tác tiếp thị đối với hoạt động kinh doanh, Cung văn hóa đã không ngừng tăng cường tuyên truyền, quảng bá, duy trì mối quan hệ với các đối tác, tạo tiền đề cho sự phát triển của Cung. Chính sự tăng trưởng kinh tế từ việc khai thác các hoạt động dịch vụ đã có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm ổn định cho 193 người lao động trong Cung, cũng như tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ nhu cầu người lao động được duy trì và phát triển.
Không dừng lại ở đó, với phương châm đặt ra trong giai đoạn mới là “xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật”, Ban Giám đốc Cung đã mạnh dạn “dám nghĩ, dám làm” tổ chức có hiệu quả nhiều cuộc thi người đẹp, các buổi biểu diễn nghệ thuật cùng nhiều cuộc triển lãm hội họa, nhiếp ảnh, tranh thiếu nhi, hàng năm thu hút từ 3 đến 3,5 triệu lượt người.
Những năm qua, ngoài số lượt khách kể trên, Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô còn là địa điểm thường xuyên diễn ra các cuộc hội nghị, hội thảo lớn, các hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước cũng như các cuộc gặp gỡ quốc tế. Trong suốt 15 năm hoạt động Cung văn hóa đã phục vụ đầy đủ, an toàn, tuyệt đối có chất lượng hàng nghìn cuộc hội nghị lớn, nhỏ, những ngày kỷ niệm lớn của Đảng, Nhà nước. Những kết quả đạt được đã khẳng định uy tín mà Cung văn hóa đã tạo dựng được trong những năm qua. Đầu năm 2001, Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô đã vinh dự được chọn là nơi tổ chức cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống V.Pultin – Tổng thống Nga đầu tiên với các học sinh, sinh viên đã từng học ở Liên Xô (cũ). Không phụ lòng tin của mọi người, toàn thể Cán bộ công nhân viên Cung đã phục vụ thành công cuộc gặp mặt này.
Chính tinh thần đoàn kết nội bộ và hướng đi đúng đắn, linh hoạt đã là sức mạnh giúp Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô đạt kết quả cao trong hoạt động và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong 15 năm qua, Cung Văn hóa đã tổ chức duy trì thường xuyên hoạt động 30 loại hình câu lạc bộ, tổ chức được 12.435 buổi sinh hoạt cho 596.903 lượt người. Mở 1.359 đầu lớp học năng khiếu nghệ thuật và các lớp nghiệp vụ thu hút 1.778.268 lượt người học. Từ kết quả đạt được Cung văn hóa đã được các cấp, các ngành tặng nhiều bằng khen, tặng cờ và nhiều phần thưởng khác. Nhân kỷ niệm 10 năm khánh thành đưa Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô vào hoạt động. Cung đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.
Mười lăm năm, thời gian chưa phải là dài nhưng cũng đủ để khẳng định bước đi, mô hình hoạt động của một đơn vị sự nghiệp có thu mà 10 năm trở lại đây đã hoàn toàn không được bù cấp. Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô thực sự là một bông hoa đẹp giữa lòng thành phố.
Hồng Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Quảng bá phiên chợ trong sương đêm

Khi cảnh vật còn tĩnh mịch và mọi người đang ngon giấc trong chăn ấm thì cũng là lúc cảnh chợ Quảng Bá diễn ra tấp nập nhất. Phải chăng sương đêm chính là yếu tố đặc biệt tạo nên tính đặc thù cho phiên chợ hoa này?
Mới 2 – 3 giờ sáng, trên con đường Nhật Tân đã thấy những chiếc xe thồ chồng chất các bó hoa hướng về phía chợ. Chủ nhân của những chiếc xe này là đàn ông, những thanh niên hay trung tuổi thì chưa rõ, bởi sương bao phủ dày đặc. Mưa bụi lắc rắc khiến cho cái lạnh càng thấm vào da thịt. Hai bên bờ đê Yên Phụ, các dãy xe máy, xe đạp chật ních, chủ yếu là khách từ các tỉnh, thành Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Thái Nguyên, Ninh Bình…. Đổ về mua hoa. Nhất là vào dịp lễ, tết, khách buôn hoa càng đông hơn. Nhìn từ xa, quang cảnh chợ thật nhộn nhịp, trải dài theo những cột điện. Qua ánh sáng lấp lánh chẳng tài nào đoán nổi hoa gì, phải cuối sát mặt xuống mới trông rõ hơn. Mặ dù tiết trời còn đang độ rét, gió mùa Đông Bắc đang tràn về nhưng những người bán hoa đã ngồi sẵn ở chợ từ bao giờ, giọng nói của họ vẫn còn ngái ngủ. Họ đã có mặt từ 1 giờ đêm, để chọn được chỗ bày bán dễ mua dễ bán. Càng đi vào trong chợ, càng thấy không gian thu hẹp bởi những dãy hoa bạt ngàn chủng loại: hồng, cúc, Salem, hoa công chúa, hoa lao kèn… Những nụ hoa vừa hái cũng còn đương e ấp trong làng sương sớm. Những người buôn hoa dày dạn kinh nghiệm, nhanh tay soi đèn pin, lật từng bó hoa, luôn miệng mặc cả. Mọi người tấp nập qua lại, trên vai vác những bó hoa to, vội vàng ra xe. Có nhiều chị tất bật chọn hoa xong, lại hối hả chạy ra cổng gọi xe vào chở. Trong không gian sôi động đó, vẫn còn anh chàng bán hoa tranh thủ khi vắng khách gà gật trên chiếc xe thồ. Giấc ngủ vừa ào đến đã vội vàng biến mất khi có người hỏi mua. Mọi hoạt động diễn ra thật ồn ào, náo nhiệt, thậm chí còn nhộn nhịp hơn cả ban ngày. Ai cũng vội vàng bán, vội vàng mua, ánh sáng hắt lên khuôn mặt họ còn ẩm ướt vì mưa bụi.
Mặc dù phải dậy thật sớm, phải cưỡng lại giấc ngủ say nhưng những người lao động này không quản ngại khó khăn, vất vả. Một người bán hoa nói với tôi: “Nghiệp sống đấy em ạ!”. Quả là nghiệp sống, song nét đặc trưng của nghề này chỉ được nổi bật và thật sống trong một phiên chợ khuya. Khi mọi người bắt đầu nhận rõ mặt nhau cũng là lúc chơ đã vãn. Sáng ra, những gánh hàng hoa tươi xinh bên đường, ở các của hàng và ở khắp mọi nẻo đường như đang mời chào, vẫn gọi khách qua đường. Trong số những người mua hoa, có ai hay hành trình của hoa hay chính hành trình vất vả của bao người quanh ta? Ngày mai, hiện chợ hoa Quảng bá lại bắt đầu
Bức tranh sơn dầu dài nhất thế giới.
Họa sĩ Huang Long ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc vừa hoàn thành bức tranh sơn dầu 250m, được đánh là bức tranh sơn dầu dài nhất thế giới cho đến nay.
Bức tranh mô tả hơn 1.000 cảnh đẹp dọc theo con đường tơ lụa ngày xưa như khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Tan An, khu hang động Dunhuang, các đoàn lữ khách thương mại trên con đường tơ lụa…Bức tranh cũng có hơn 20 chân dung những con người nổi tiếng, kể cả như những huyền thoại Bà Nữ Oa đội đá vá trời, Fuxi người đầu tiên trên thế giới sử dụng lưới để bắt thú rừng và đánh cá.
Sau khi tiến hành chuyến đi kéo dài 6 tháng trên con đường tơ lụa, họa sĩ Huang Long đã bỏ ra hơn 1 năm để hoàn thành bức tranh có một không hai này.
Trước đó, Huang Long đã vẽ bức tranh sơn dầu dài 150 mét và ngay sau đó đã được đưa vào sách kỷ lục Guinness.
Lương khách du lịch vào Hà Nội 3 tháng đầu năm tăng.
Quý I năm 2001, lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội ước đath 150.000 lượt, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhiều nhất là khách Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Australia. Đặc biệt thị trường khách Đông Nam Á tăng rất mạnh như Đài Loan tăng 35/7% Hàn Quốc 92,4/5; Thái La 59,5%. Khách du lịch nội địa cũng đạt 600.000 lượt, tăng 60% so với cùng kỳ năm trước
Nhờ vây, doanh thu từ du lịch đạt 450 tỷ đồng tăng 16,9% so với quý 1 năm 2000.
Hoàng Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Để tuyên truyền quảng bá du lịch có hiệu quả – Phần 2

Có như vậy công tác tuyên truyền quảng bá mới có thể duy trì một cách ổn định và phát triển lâu dài, từng bước tiếp cận với các quốc gia trong khu vực, chúng ta không chỉ trông cậy vào sự nỗ lực của một vài đơn vị có thể đảm trách được mảng công việc to lớn như vậy khi không có nguồn kinh phí tương xứng dành cho nó. Nhìn sang các nước bè bạn, chúng tôi thấy số lượng khách du lịch đến với họ hàng năm hơn hẳn chúng ta, thậm chí gấp nhiều lần. Nhưng để đón được số khách như vậy, Nhà nước của họ đã dành khoản kinh phí rất lớn cho công tác tuyên truyền quảng bá, ví dụ trong hai năm 1998 – 1999, Thái Lan đã dành 300 triệu USD cho Chương trình “Kỳ diệu Thái Lan” (Amazing Thailan), mà phần chính chủ yếu là khâu tuyên truyền quảng bá; Lào chi cho tuyên truyền quảng bá năm 1999 “Visit Lao” với kinh phí khoảng 2 triệu USD…
Nhìn lại hai năm ngành Du lịch triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch đã chi khoảng hơn 10 tỷ đồng (hai năm 1999 – 2000 chưa giải ngân xong khoản dự toán ban đầu). Đổi lại, ngành Du lịch đã đạt số lượng khách quốc tế vào Việt Nam tăng lên đáng kể. Nếu tính bình quân chi phí của một khách ngoại quốc tại Việt Nam là 500 USD/người (không kể cước vé máy bay) thì chúng ta đã thu về cho đất nước khoảng 26 tỷ VNĐ. Tương tự, cũng năm 2000, khách du lịch nội địa tăng 600.000 lượt người, tính trung bình một khách du lịch trong nước chi phí khoảng 250.000đ/người thì doanh thu từ nguồn này đã có 150 tỷ VNĐ, quả là những con số rất ấn tượng.
Thứ ba, công tác tuyên truyền quảng bá cần được tăng cường mạnh mẽ hơn nữa nhằm đáp ứng với yêu cầu mới. Trước hết đẩy mạnh khâu phát hành các ấn phẩm tuyên truyền Du lịch Việt Nam hướng tới thị trường nước ngoài, dần khắc phục tình trạng “trắng” lâu nay. Để làm được vấn đề này, bắt buộc phải có sản phẩm, nội dung, hình thức đa dạng với chất lượng cao nhằm tạo sự hấp dẫn. Một chi tiết tưởng như là rất nhỏ nhưng lại rất quan trọng, nên chăng Tổng cục Du lịch quy định cho mỗi người (hoặc đoàn) đi dự hội chợ ở nước ngoài phải mang theo số lượng tài liệu cụ thể (tính bằng kg), được cơ quan thanh toán cước phí vận chuyển (nếu không có tổ chức hay cá nhân nào tài trợ) khi đủ chứng từ hợp lệ. Đây là những cơ hội “vàng” để ngành Du lịch tiếp cận trực tiếp với các thượng đế tiềm năng của mình.
Thứ tư, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh khâu tuyên truyền đến những đối tượng chuẩn bị đến Việt Nam theo bất kỳ mục đích nào, bằng cách thường kỳ chuyển tài liệu quảng bá cho Bộ Ngoại giao để cung cấp cho các đại sứ quán và đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Mỗi khi người nước ngoài đến làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam đều có tài liệu phát miễn phí…
Thứ năm, quan tâm, khai thác tổng hợp thế mạnh của các công cụ báo nói, báo viết, báo hình phục vụ công tác tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam ở cả trong và ngoài nước.
Trên đây là một vài ý kiến nhìn từ góc độ cá nhân, hy vọng những ý kiến trên sẽ nhận được sự trao đổi chân thành của các anh, chị đồng nghiệp khác.
Lê Nhiệm – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Để tuyên truyền quảng bá du lịch có hiệu quả – Phần 1

Ngành Du lịch Việt Nam đang ở độ tuổi 41. Nếu so sánh với năm 1990, khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam năm 2000 tăng gấp 8,56 lần, khách du lịch nội địa gấp 11,2 lần, doanh thu tăng bình quân khoảng 40%/năm… đủ cho thấy sự phát triển, lớn mạnh của ngành.
Đạt được kết quả trên là có sự đóng góp công sức của hàng nghìn cán bộ, nhân viên ngành Du lịch phấn đấu bền bỉ trong nhiều thập kỷ qua; sự vươn lên về trình độ nghiệp vụ chuyên môn cũng như năng lực quản lý kinh doanh ở các đơn vị trong toàn ngành là kết quả đầu tư vốn của cả trong và ngoài nước… Nhưng có một nguyên nhân rất quan trọng là vai trò của công tác tuyên truyền quảng bá Du lịch Việt Nam.
Du lịch Việt Nam những năm qua đã cho ra đời nhiều loại sản phẩm tuyên truyền quảng bá về đất nước – con người Việt Nam bằng nhiều loại hình như sách, tranh, ảnh, băng video, tờ gấp, CD-ROM, Internet… với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Có thể nói, chưa bao giờ sản phẩm tuyên truyền quảng bá du lịch lại đa dạng và mạnh mẽ như lúc này, nhất là sau khi Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch đi vào hoạt động thì công tác tuyên truyền quảng bá thực sự đã tạo nên những bước đột phá rất quan trọng. Hình ảnh Du lịch Việt Nam ở trong nước và quốc tế đang được khắc họa một cách đẹp đẽ hơn, khách quan hơn, toàn diện hơn – điều trước đây chúng ta chưa làm được bao nhiêu. Dẫu có những bước tiến song sản phẩm tuyên truyền quảng bá Du lịch Việt Nam chưa đủ sức vươn xa, vươn rộng cho tương xứng với yêu cầu hiện tại, số lượng mỗi sản phẩm lại rất khiêm tốn (số lượng ấn hành ở vài sản phẩm nhiều nhất cho một ngữ thời gian qua chưa vượt quá con số 5.000 bản), nếu so sánh với yêu cầu thì quả như “muối bỏ bể”!
Những ai đã có dịp đi hội chợ nước ngoài hẳn đều biết, tài liệu tuyên truyền quảng bá du lịch của các nước dường như bão hòa. Từ chủng loại sản phẩm đến nội dung thông tin đều rất đa dạng,chi tiết. Tuyên truyền quảng bá của họ mang tính chuyên nghiệp rất cao, được thực hiện từ nhiều thập niên trước đây.
Theo chúng tôi, để công tác tuyên truyền quảng bá ở Việt Nam có hiệu quả, trước hết cần có sự thay đổi về tổ chức bằng việc sớm thành lập cơ quan quản lý công tác này, có thể là Cục Xúc tiến Du lịch (như Cục Xúc tiến Thương mại của Bộ Thương Mại). Một cơ quan chuyên trách có thẩm quyền, được bố trí những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm về về lĩnh vực này sẽ tập trung công việc về một đầu mối, tránh sự trùng chéo hoặc bỏ trống. Chúng tôi biết rằng, hiện tại chức năng quản lý Nhà nước và theo dõi thực hiện công tác tuyên truyền quảng bá của Tổng cục Du lịch được quy định trong chức năng nhiệm vụ của ba đơn vị.
Thứ hai, các cơ quan chức năng của Chính phủ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Tổng cục Du lịch) cần có quy định rõ bằng văn bản tỷ lệ kinh phí dành cho tuyên truyền quảng bá du lịch trong nguồn kinh phí của quỹ phát triển ngành hàng năm hoặc nguồn kinh phí từ ngân sách cấp.
Lê Nhiệm – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001