Có nên thành lập cảnh sát du lịch ?

Trong bài báo “Có nên thành lập lực lượng cảnh sát du lịch?” đăng trên báo Du lịch số 28 ra ngày 13/7/2001, tác giả Nguyễn Thu Liên đã nêu ra mọi ưu điểm của cảnh sát du lịch và cho rằng thành lập lực lượng cảnh sát du lịch là việc nên làm (chứ không chỉ nghĩ), đặc biệt khi số lượng du khách ngày càng tăng lên và ở một số điểm du lịch vấn đề an ninh, an toàn cho khách đang ngày một nhức nhối.
Vấn đề an ninh, chính trị, sự an toàn của con người ở nước du lịch hay vùng du lịch là điểm quan tâm hàng đầu của không chỉ mỗi quốc gia, mỗi chính quyền sở tại, mà còn là sự quan tâm của mỗi con người khi tham gia đi du lịch. Chỉ cần một sự cố nhỏ về an ninh chính trị; hay tính mạng, tài sản của khách du lịch bị đe dọa thì điểm du lịch, vùng du lịch hay quốc gia du lịch sẽ bị du khách tẩy chay. Lúc đó chẳng cần một lời khuyến cáo nào thì tất cả các du khách sẽ không nghĩ đến việc đi du lịch đế đó nữa. Không có du khách sẽ không có du lịch và kéo theo hàng loạt vấn đề liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội nảy sinh… mà hậu quả không tốt đẹp gì. Đó là điều mà chúng ta cần xem xét lại một cách nghiêm túc hơn nữa, nhất là khi chúng ta đang xác định ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.
Hàng năm ở các điểm du lịch trên khắp thế giới, ngoài những lý do thiên tai không thể kiểm soát, chúng ta vẫn thường nghe đến những vụ đặt bom tại toa xe điện hay các khách sạn, nhà hàng… Các vụ bắt cóc khách du lịch để làm con tin để tống tiền hay vì mục đích chính trị v.v… và hậu quả thì ai cũng biết, ngành du lịch thất thu nặng.
Nước ta có một nền chính trị ổn định, sự an toàn xã hội rất cao và luôn được chăm lo, vì thế du khách nước ngoài đến Việt Nam rất an tâm. Nhưng đó mới chỉ là xét một cách tổng thể, còn đi sâu hơn, chúng ta cần phải xem xét lại vấn đề an ninh, an toàn tại các điểm, các khu du lịch trên cả nước. Việc thành lập cảnh sát du lịch mà tác giả Nguyễn Thu Liên đề cập là một việc làm mang tính thiết thực và nên được các cơ quan chức năng quan tâm.
Thực ra, cảnh sát du lịch đã hiện diện ở nước ta nhiều năm gần dây dù nó chỉ mang tính tự phát và không thể phân biệt rõ ràng. Ở bất cứ điểm du lịch nào (kể cả danh lam thắng cảnh, bãi biển, di tích văn hóa, lịch sử…) cũng đều có ban quản lý cùng các nhân viên bảo vệ, nhân viên cứu hộ, ở các ga xe lửa, bến tàu, bến xe đều có trạm cảnh sát giữ gìn an ninh trật tự cho hành khách, thậm chí trên các chuyến tàu đều có cảnh sát túc trực để bảo vệ và giải quyết các vấn đề an ninh. Tuy nhiên, lực lượng này đều do các cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm về sự uy tín của mình, vì yếu tố cạnh tranh… Nhưng dù với mục đích nào đi chăng nữa thì việc làm đó cũng đáng hoan nghênh. Trên thực tế, lực lượng này đã góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch… Tuy nhiên, họ cũng không tránh khỏi nhiều điều bất cập. Thứ nhất là hầu hết nhân viên đều không có kiến thức về du lịch, từ đó dẫn đến làm việc một cách cứng nhắc mang tính trách nhiệm. Chưa nhận thức được rằng trong ngành du lịch, thái độ phục vụ là quan trọng nhất, phải làm sao vừa bảo vệ kín đáo, hiệu quả mà vẪn từ tốn, lịch sự, chu đáo. Thứ hai, hầu hết các nhân viên cảnh sát, bảo vệ đều không biết ngoại ngữ, điều này ảnh hưởng không ít đến việc giải quyết các vấn đề xảy ra với khách du lịch như các sự cố tai nạn, mất cắp… Thứ ba, là một số trạm cảnh sát và nhân viên làm việc còn mang tính chuyên nghiệp và không có tính giúp đỡ. Đã có rất nhiều du khách nước ngoài phàn nàn về vấn đề này.
Theo dự báo của nhiều nhà nghiên cứu du lịch thì lượng khách du lịch đang và sẽ tăng lên rất nhiều, kể cả du khách trong nước và quốc tế. Đây là một cơ hội lớn cho ngành du lịch Việt nam phát triển và hội nhập. Vì vậy, việc đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch là vấn đề cần quan tâm hàng đầu. Thiết nghĩ, Tổng cục Du lịch và các cơ quan chức năng liên quan nên cùng nhau thảo luận và đưa ra kế hoạch hợp lý cho việc xây dựng lực lượng này. Phát triển nó mang tính chuyên nghiệp và bền vững để đảm bảo an toàn xã hội, an ninh chính trị của quốc gia và sự an toàn cho chính khách du lịch. Quan trọng hơn là để Việt Nam sẽ thực sự là điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Đỗ Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(195)2001

Vì sao du lịch Đà Nẵng chưa thu hút khách?

Nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao với một địa phương có tài nguyên du lịch phong phú; có cơ sở hạ tầng, giao thông, liên lạc… phát triển mạnh như Đà Nẵng mà chương trình du lịch vẫn nghèo nàn, đơn điệu? Khách du lịch đến Đà Nẵng sau khi loanh quanh ở Bảo tàng Chàm, Ngũ Hành Sơn, dạo phố mua sắm rồi đi thẳng ra Huế hoặc vào nghỉ tại Hội An mà không lên Bà Nà để thưởng thức “bốn mùa trong một ngày”m, hoặc thăm thú các làng quê, làng nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa phương Đông như Cẩm Nê, Túy Loan, Bồ Bản,… hay các vườn đồi chè xanh ngút ngàn ở Phú Thượng, làng cộng đồng người dân tộc Cơ Tu ở Phú Túc, Tà Lang Cầu Sụp…?
Quả thật Đà Nẵng có đủ điều kiện và cơ sở để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, đáp ứng nhu cầu của phần lớn khách du lịch phương Tây. Lâu nay những người làm du lịch Đà Nẵng đã dày công nghiên cứu, khảo sát và lập nên nhiều chương trình du lịch hấp dẫn như: Các chương trình tham quan nghiên cứu di tích lịch sử – nghệ thuật kiến trúc của thành phố với 9 di tích xếp hạng quốc gia và các chùa chiền, nhà thờ, thánh thất; các chương trình du lịch làng quê, làng nghề truyền thống như nghề dệt chiếu Cẩm Nê, đan lát mây tre Yến Nê, bánh tráng – mì quảng Túy Loan, trồng hoa Phước Mỹ; các chương trình du lịch vườn đồi ở Cao Sơn, Phú Thượng; tìm hiểu phong tục tập quán đồng bào dân tộc ít người ở Phú Túc, Tà Lang; các chương trình du lịch sinh thái với Hải Vân, Sơn Trà, Làng Vân, Trường Định v.v… Thế nhưng, những sản phẩm du lịch trên đây chưa có mấy người mua vì những nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, những sản phẩm du lịch nêu trên còn ở dạng nguyên liệu thô chưa qua trau chuốt, tỉa tót để gọi là sản phẩm. Du khách có thể thích thú với một cảnh quan thiên nhiên còn hoang sơ chưa bị ô nhiễm hoặc bị bàn tay con người can thiệp thô bạo, nhưng không bao giờ chấp nhận một điểm tham quan du lịch còn quá thô sơ hoang dã. Thứ hai, sản phẩm du lịch được chào bán phải có đầy đủ thông tin về giá trị của nó nhằm trả lời cho người mua, nó khác những sản phẩm khác ở điểm gì. Thứ ba, vị trí sự tiện ích trong việc đi lại cả về thời gian và không gian hưởng thụ những sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng. Ít người chấp nhận phải qua bao nhiêu đèo dốc xa xôi, nguy hiểm chỉ để mua một sản phẩm mà họ có thể mua ở một nơi thuận tiện hơn với chất lượng cao hơn nhiều lần… Tuy nhiều nguyên nhân làm hạn chế đến sức mua sản phẩm du lịch ở Đà Nẵng nhưng không phải không khắc phục được. Đà Nẵng đã đang làm nhiều việc để các tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch. Nhưng nguyên nhân lớn nhất làm cho sản phẩm du lịch Đà Nẵng có ít người mua vì chưa có người bán hàng chịu khó; hay nói rõ hơn Đà Nẵng còn thiếu một hãng lữ hành đủ năng lực để vừa làm cho các sản phẩm ngày càng tinh xảo, vừa tận tụy chào bán tận tay khách hàng. Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng ngày càng tăng, điều đó chứng tỏ sản phẩm du lịch Đà Nẵng ngày càng hấp dẫn. Thế nhưng hầu hết khách du lịch có điểm dừng tại Đà Nẵng là do các hãng du lịch lớn bán chương trình từ hai đầu đất nước hoặc nối tour từ các hãng du lịch quốc tế vào Việt Nam qua Đà Nẵng. Các công ty lữ hành của Đà Nẵng chỉ làm chức năng nối tour hoặc thực hiện một vài dịch vụ trong rất nhiều dịch vụ, công đoạn và không có quyền đưa khách đến nơi này, nơi kia, mua dịch vụ này hay dịch vụ khác ngoài chương trình đã định sẵn.
Cho đến nay, tại Đà Nẵng, ngoài Công ty Du lịch Việt Nam (Vitours) trực thuộc Tổng cục Du lịch và chi nhánh Công ty Du lịch Tân Hồng tại Đà Nẵng là hai đơn vị có năng lực khai thác khách trực tiếp và bán tour trọn gói với số lượng khách tương đối, còn lại các đơn vị khác hầu như chỉ làm nhiệm vụ nối tour cho các đơn vị lớn của hai đầu đất nước.
Hiện nay Đà Nẵng đã mở những đường bay quốc tế trực tiếp cùng với cảng biển được nâng cấp đủ sức đón các hãng tàu biển lớn như: Star Cruises. Elizabeth; cửa khẩu Lao Bảo được khai thông với việc bỏ Visa cho khách Thái Lan càng làm cho Đà Nẵng nổi rõ vị thế là cửa khẩu quốc tế thứ ba của Việt Nam.
Trước điều kiện đó, việc tập hợp đội ngũ những người làm lữ hành chuyên nghiệp và đầu tư nguồn tài chính đủ mạnh nhằm xây dựng một đơn vị lữ hành có năng lực, đủ tầm giao dịch và bán sản phẩm trực tiếp đến các hãng lữ hành nước ngoài và du khách gần xa là một yêu cầu bức bách để Đà Nẵng sớm trở thành một trung tâm du lịch lớn của khu vực.
Ngô Trường Thọ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Afana – Nikitin – người Nga

Du lịch và thám hiểm thời trung cổ Afana – Nikitin – người Nga người châu u đầu tiên tới Ấn Độ
Năm 1466, triều đình Xiar ơvana một quốc gia hồi giáo ở phía tây Lý Hải gửi sứ giả đến Nga Hoàng Ivan III. Khi đoàn sứ giả này trở về nước, họ đi cùng một số thương nhân người Nga trong đó có Afana – Nikitin.
Afana – Nikitin xuôi theo dòng Vonga về tới Lý Hải, rồi sau đó tìm đường đi buôn bán với nước ngoài. Từ CuBa, Afana – Nikitin đi về phía Nam tới Iran. Ông ở lại đây 7 tháng và sau đó tới thành Rây (Teheran ngày nay). Cuộc hành trình kéo dài ngày và đôi khi ông ở lại một thị trấn, một thành phố nào đó tới vài tháng. Tại Teheran thủ đô của Iran, ông biết tin có thể tới Ấn Độ buôn bán ngựa giống và mua nhiều hàng quý với giá rẻ.
Afana – Nikitin quyết định đi tới Ấn Độ qua vịnh Ba Tư, qua Ocmudo một thành phố cảng lớn, sầm uất của Ba Tư thời đó. Tại Ấn Độ, Afana – Nikitin mua ngựa giống ở vùng thuộc Nam Ấn và sau đó chở ngựa bằng tàu biển lên Đabun, tây bắc Ấn Độ để bán. Thời đó, tại Đabun có chợ buôn bán ngửa của ba quốc gia:Ả Rập, Iran và Ấn Độ.
Trong 2 năm sống ở Ấn Độ, Nikitin đã đi tới nhiều thành phố, thị trấn và ông đã mô tả về đất nước con người của xứ sở này. Điều ngạc nhiên đối với Nikitin là mùa đông ở Ấn Độ nơi mà ông đi tới lại không có tuyết. Còn cây cối lại hết sức to lớn. Có những cây đa hơn 20 thân, tán và gốc các thân chiếm tới 100 m2. Bờ biển Ấn Độ rất đẹp, có rất nhiều cây dừa, quả có nước và cùi ăn rất ngon.
Nikitin ca tụng thiên nhiên bao nhiêu thì ông lại thiếu thiện chí khi nói về người dân . Ông mô tả:
Mọi người đi ở ngoài đường không mặc quần áo, đầu trần ngực hở, tóc bết lại vì mồ hôi. Phụ nữ mặc váy và ở xứ sở này có rất nhiều trẻ con. Đàn ông và hụ nữ đều có nước da đen. Tôi đi tới đâu mọi người theo tôi rất đông. Họ nhìn người da trắng với ánh mắt lạ lung.
Mưa mùa hạ ở Ấn Độ làm cho Nikitin rất ngạc nhiên. Mưa tới 4 tháng liền, ngày cũng như đêm, đều có thể có mưa. Đường sá lầy lội rất bẩn, song mùa mưa lại là mùa trồng trọt của người Ấn Độ. Tại đây người ta trồng cây lúa nước và các cây lương thực khác.
Tại Đabun, Nikitin không bán được ngựa, ông lại dắt đàn ngự đi sâu vào lục địa tới thành phố Đojune. Ông ở lại thành phố này 2 tháng và sau đó tới Đaburo một thành phố lớn và đông người của Ấn Độ thời đó. Tại đây, người ta buôn bán nhiều mặt hàng, kể cả hàng tơ lụa của Trung Quốc. Nikitin kể về người dân ở thành phố này một cách thê thảm.
Mọi người đều đen và giữ tợn, phụ nữ không biết e thẹn, kẻ cắp nhiều vô kể, nhan nhản khắp nơi… Thành phố có nhiều nhà cao, to, đồ sộ… có 5 vạn bộ binh, 1 vạn kị binh với những con voi có ngai vàng, ngựa có yên vàng. Ban đêm ở thành phố này có tới 1 vạn người, cưỡi ngựa, tay cầm đuốc đi tuần tra…
Nikitin lưu lại ở thành phố này Đaburo 1 năm. Kể từ ngày ra đi, Nikitin đã sống ở nước ngoài 6 năm, trong đó có hơn 2 năm sống tại Ấn Độ. Trong thời gian ở Ấn Độ, ông đã ở nhiều thành phố thuộc miền Tây Ấn Độ và cao nguyên Đê – căng. Trong nhật ký, Nikitin đã ghi chép mọi mặt về Ấn Độ như tình hình núi non sông ngòi, các thành phố, các hải cảng và phong tục tập quán của Ấn Độ. Trong nhật ký, Nikitin cũng nói tới thành phố Calicut ở phía nam Ấn Độ thời đó là một cảng lớn, buôn bán giữa Ấn Độ và các quốc gia Ả Rập. Nikitin cũng biết tới Xri – Lanca là một nước có nhiều đá quý và voi.
Năm 1472, Nikitin từ giã Ấn Độ trở về Nga. Cuộc hành trình của Nikitin không có ý nghĩa về mặt kinh tế. Song ông là người Nga và cũng là người châu u đầu tiên đã lưu lại ở Ấn Độ trong thời gian dài. Ông đã cung cấp thông tin cho chau u Ấn Độ. Tiế theo Nikitin, mãi 30 năm sau, người Bồ Đào Nha mới tới Ấn Độ.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Phố ô mai

Đã từ lâu, Hà Nội vốn nổi tiếng là địa danh có nhiều món ăn ngon mà ít nơi sánh kịp/ Có những dãy phố, làng quê mà hễ nhắc đến người ta gọi nó bằng cái tên của những món ăn: Phố Lý Quốc Sư là phố cháo gà, cháo vịt, Lã Vọng là chả cá, làng Vòng là làng cốm, Cầu Gỗ là phố ốc ghẹ và Hàng Đường là phố ô mai…
Những cửa hàng ô mai trên phố Hàng Đường đều có từ cách đây hàng trăm năm. Khi thưởng thức món ăn này người ta nghĩ đến một thú ẩm thực tao nhã mà không kém sự cầu kỳ. Ăn là cảm nhận cái đẹp của hương vị quê nhà chứ không phải để no nê. Các “nghệ nhân” có bí quyết chế biến gia truyền riêng mà người nơi khác không dễ gì có được, cũng chỉ là những loại quả: cóc, sấu, me, khế, mơ… nhưng họ kiểm nghiệm chất lượng từ nơi trồng ra nó. Chị Hồng chủ cửa hàng ô mai số 11 cho biết: “Trám ở Bắc Giang quả to, cùi dày, sấu Nghệ An giòn, mơ Bắc Kạn thơm, đậm đà…”. Khi chế biến họ phải chọn lọc từng quả rất cầu kỳ. Cách xử lý ngâm, tẩm, sấy, pha trộn với đường, muối gừng, ớt hoặc quế phải thật khéo léo, tinh xảo để làm sao cho ra nhiều món. Mà món nào cũng phải nổi vị món ấy và giữ được hương vị quả tươi.
Hiện ô mai phố Hàng Đường được khách trong nước cũng như khách du lịch nước ngoài yêu thích. Chị Lý Khánh du khách Trung Quốc cứ tấm tắc mãi khi thưởng thức ô mai ở cửa hàng Hồng Lam đây là cửa hàng chế biến theo phương pháp cung đình Huế, theo chị: ô mai Việt Nam không quá ngọt như ô mai Trung Quốc. Anh Hồng Lam chủ cửa hàng cho biết: “Hiện chúng tôi có 70 loại ô mai. Và để phù hợp với sở thích của khách hàng, đặc biệt là khách nước ngoài, chúng tôi sử dụng cả đường béo, đường gày khi chế biến…”. Bà Landown du khách Pháp cứ trầm trồ mãi khi nếm thử món mơ xào tại đây “Đưa vào đầu lưỡi thấy mát lạnh. Khi ăn có vị đậm đà củ muối, ngọt của đường, vị ấm nóng, thơm cay của gừng kèm cái mát của quả tươi. Thật là món ăn rất Việt Nam”.
Cả nước giờ có nhiều điểm chớ biến, sản xuất ô mai. Nhưng sản phẩm này ở Hàng Đường vẫn chiếm được lòng du khách. Cả phố giờ chỉ còn vài gia đình giữ được nghề nhưng phố vẫn ăn sâu vào tiềm thức của nhiều người bởi sản phẩm đậm đà hương vị quê hương, góp phần tạo nên bản sắc Hà Nội. Có được bản sắc đó ta thầm cảm ơn những con người đam mơ tâm huyết với nghề truyền thống của cha ông. Nói như anh Hồng Lam: Giữ nghề chỉ với yêu thích, đam mơ mà thôi.
Danh ngôn hài hước.
Người dại thường nghĩ là mình khôn, nhưng người khôn thì lại tự biết mình là dại.
Đàn bà là một cái máy tính mặc váy.
Chính vì nghe những người phụ nữ xưng tội, mà các cha xứ không lấy vợ.
Điều quái quỉ là: sau lưng chúng ta, mọi người nói những điều tuyệt đối đúng.
Lời nói như lá cây. Cây nào có lá nhiều thì ít quả.
Chương V: Khen thưởng và xử lý vi phạm.
Điều 18: Khen thưởng
Tổ chức cá nhân có thành tích trong việc kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên, vận chuyển khách du lịch thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 19: Xử lý vi phạm.
Tổ chức cá nhân kinh doanh lữ hành mà không đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế mà không có giấy phép hoặc có sai phạm trong việc thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này, hướng dẫn viên du lịch quốc tế mà không có thẻ hướng dẫn viên du lịch thì tùy theo tính chất, mức độ quy phạm mà xử lý hành chính hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc tuy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với những quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên du lịch thì tùy theo tính chất, mức độ quy phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương VI: Điều khoản thi hành
Điều 20.
Những doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đã có giấy phép, đã đăng ký hoạt động kinh doanh trước ngày ban hành Nghị định này vẫn tiếp tục được hoạt động kinh doanh nhưng phải điều chỉnh, bổ sung đầy đủ các điều kiện của các hoạt động theo quy định của pháp luật tại Nghị định này.
Những người đã được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch trước khi ban hành Nghị định này mà vẫn còn thời gian sử dụng thì vẫn tiếp tục sử dụng thẻ đã được cấp để hướng dẫn khách du lịch.
Điều 21: Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 22: Tổng cục du lịch có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 23: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nguyễn Bích – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Mục đích của chúng tôi là làm phong phú và hấp dẫn thêm các chương trình

Hoạt động ca nhạc ở phòng trà không phải là một điều mới mẻ ở Thành Phố Hồ Chí Minh bởi lẽ nó đã phát triển tột bậc vào thời kỳ trước giải phóng. Thế nhưng cách đây khoảng 3 – 4 năm về trước, nếu có ai nhắc đến chuyện mở của phòng trà ca nhạc để rồi mời cho được những ca sĩ thuộc hàng sao trong nước biểu diễn hàng đêm đó là điều không tưởng, chứ đừng nói đến việc mời ca sĩ có tiếng tại hải ngoại xuất hiện hiện tục tại phòng trà của mình. Vì đều này chỉ có thể thịnh ở Sài Gòn vào những năm 1975 với những tên tuổi nổi danh thời ấy như ca sỹ Khánh Ly, Thanh Tuyền, Thái Thanh, Duy Khánh, Khánh Hà… phòng tra ca nhạc trong những năm qua chỉ chỗ để cho giọng ca mới vào nghề chưa được nhiều người biết đến hoặc những ca sĩ hạng B, những ca sĩ giọng ca nghiệp dư với tiền cát xê chẳng là bao nhiêu. Nhưng phải cho đến khi phòng trà Tiếng tờ đồng làm một cuộc hồ sinh ngoạn mục khi mời được ngôi sao Thanh Lam với 4 đêm diễn liên tục tại đây vào đầu tháng 8/2000 thì không khí ở các phòng trà ca nhạc khác như được hâm nóng trở lại với sự hiện diện của các ngôi sao như Hồng Nhung, Lam Trường, Phương Thanh, Quang Linh… tại M.Sài Gòn (M.SG), Đồng Dao (ĐD), Long Phụng (LP)…
Những đêm diễn thường xuyên của các ngôi sao ca nhạc tại các phòng trà đã gây xôn xao dư luận. Nhưng ca sĩ được xếp hạng trên “bảng top” thường chỉ xuất hiện trong các chương trình lớn với mức cát xê kinh hồn lại chụi đi hát ở các phòng trà ư? Khi chúng tôi đem điều này ra thắc mắc thì được anh Thanh Hải, một trong những người chịu trách nhiệm thực hiện chương trình ca nhạc cho Tiếng tơ đồng cho biết: “Mục đích của chúng tôi là làm phong phú và hấp dẫn thêm các chương trình của mình và cũng là đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng cao của khán giả chứ không phải là một hình thức kinh doanh bằng các tên tuổi của các ngôi sao. Thường thì tiền cát xê cho nhưng ca sĩ ngôi sao từ 5 – 7 triệu, ấy là chưa kể tiền chi phí đi lại của các ca sĩ ở Hà Nội như Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà… nên đã trừ xong các khoản này nọ, hòa vốn là đã vui lắm rồi. Tính trung bình mỗi tháng, các phòng trà như TTĐ, MSG, ĐD, LP… có từ 5 – 7 chương trình dành cho các ca sĩ hạng sao. Nếu bạn từng nghe ca sĩ Hồng Nhung hát vườn yêu trong chương trình Làng sóng xanh, ca sĩ Trần Thu Hà hát Sắc màu trong chương trình Nhịp đập âm nhạc hay Phương Thanh hát Tiếng rao trong duyên dáng Việt Nam 9… trên sân khấu lớn thênh thang thì cũng với các ca khúc ấy, bạn sẽ được thưởng thức trong một không khí ấm cúng và thân thiện ở một phòng trà nào đó.
Phòng trà ở Thành phố Hồ Chí Minh không nhiều, chỉ trên dưới 20. So với sân khấu, ca nhạc phòng trà có những nét khác biệt cơ bản: nếu như âm nhạc trên sân khấu thường sôi động, ồn ào thì không gian âm nhạc trong phòng trà có phần trầm lắng, lịch lãm hơn. Trong phòng trà, công chúng thưởng ngọn cũng có vẻ được chọn lọc hơn. Tùy theo ca sĩ ngôi sao của từng đêm mà quy tụ các đối tượng khán giả khác nhau về lứa tuổi, tính cách, cung bậc thưởng thức. Nếu như ca sĩ Hồng Nhung hay Thanh Lam hát thì khán giả thường là những người đứng tuổi, phần lớn là trí thức. Họ đến để nghe nhạc, để thưởng thức những giai điệu đẹp được trâu chuốt qua từng câu hát từ những ca sĩ mà họ mến mộ. Họ ngồi nghe một cách say sưa và cổ vũ rất nồng nhiệt. Còn với ca sĩ Phương Thanh, Lam Trường thì số đông khán giả lại thuộc về giới trẻ.
Họ ít khi chịu ngồi yên mà thường xuyên hoạt động theo lời ca, động tác diễn xuất của ca sĩ. Vì thế không khí trong phòng trà luôn sôi động. Ở các phòng trà bạn có thể giao lưu cùng với các ca sĩ, có thể ngỏ ý yêu cầu họ hát những bài hát bạn thích. Tất nhiên để có những giờ phút thư giãn vui vẻ như vậy, bạn sẽ phải trả từ 120.000 – 150.000 đồng chi phí cho mỗi xuất biểu diễn kể cả tiền nước uống. Xem ra có vẻ hơi đắt đấy nhưng hầu như đêm nào có ngôi sao đến hát, khán phòng cũng chật ních người.
Để chiêu dụ được nhiều khách, các phòng trà không chỉ mời các ca sĩ trong nước mà còn chạy đua nhau để mời cho bằng được các danh ca từ hải ngoại trở về biểu diễn. Trước tiên phải kể đến ca sĩ Hương Lan, Ngọc Bích, Kim Anh… và sau đó là Jimmi Nguyễn, Phương Trinh, Thái Châu, Ngọc Huệ… Ca sĩ Elvis Phương vừa trở về Việt Nam đã đăng ký hợp đồng với Trung tâm băng nhạc Rạng Đông đã được ngay phòng trà quốc tế ưu ái mới diễn liên hoan ba đêm, sau đó là những đêm tại MSG, LP, nữ ca sĩ Thanh Hà cũng nhận được lời mời từ TTĐ, MSG và cô đã hát ở hai nơi này những 6 đêm liên tiếp. Ca sĩ Phương Mai người đã về nước đóng các nhiều video cải lương chung với Vũ Linh, Kim Tử Long… gần đây cũng là một show riêng tại phòng trà LP, TTĐ, Nam ca sĩ Anh Tú được khán giả hải ngoại và cả nơi quê nhà yêu thích qua những ca khúc Chỉ riêng mình anh, mơ về em, chiếc lá mùa đông… mới vừa có những đêm diễn tại TTĐ, LP, MSG. Cát xê của các ca sĩ hải ngoại không cao hơn các ca sĩ trong nước là bao nhiêu và bản thân họ cũng chỉ muốn được hát trên chính quê hương mình với tất cả tấm lòng của những con người yêu tổ quốc. Vào thời điểm này sự lên ngôi của hình thức phòng trà ca nhạc đã thực hiện sự thay đổi khẩu vị thưởng thức âm nhạc của rất nhiều người. Nhưng liệu sự lên ngôi này có phải chỉ là sự đột biến trong một thời gian ngắn mà thôi? Có lẽ không nên dự đoán điều gì cả và nếu chưa một lần tới phòng trà nghe ca sĩ hạng sao biểu diễn thì cũng nên thử một lần khi mà bạn cũng muốn gặp gỡ và giao lưu với ca sĩ thần tượng của mình.
Phương Thảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Công đức cũng phải lịch sử, văn hóa

Nam Mô A Di Đà Phật, đây là câu cầu khấn cửa miệng của bất cứ ai bước vào cửa tâm linh. Nhưng trong số những người đi chùa, đình, đền, có ai hay Đức Phật từ bi đang “lắc đầu quầy quậy” trước những hành động ngược lại với quy định cửa Phật.
Hiện nay, nếu chúng ta thống kê số lượng hòm công đức tại các chùa chiền, miếu mạo trong cả nước thì không kể xiết. Đơn cử, một ngôi chùa nhỏ ở Hà Nội chỉ đếm sơ qua cũng gần chục hòm công đức, còn chưa kể những ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử hay những ngôi chùa còn là thắng tích của đất nước. Đập ngay vào mắt mỗi người khi vừa bước chân vào nơi thanh tịnh là chiếc hòm công đức thật to, được kê trang nghiêm ở ngay bàn thờ công đồng (ban chính). Trên mặt hòm có đề chữ tiếng Việt cũng như tiếng Anh “box of kindness” (có nghĩa là hòm công đức). Hầu hết tất cả các đình, đền, chùa, đều đang phát triển rộng rãi phương thức từ thiện này. Thực tế, hòm công đức hình thành cũng là xuất phát từ tấm lòng từ thiện của người dân, chính xác hơn là tâm nguyện của họ. Sau những công việc thành công, họ muốn góp phần một chút để tôn sửa đền, chùa. Những hành động cúng tiến, công đức cho chùa chiền là hành động rất tích cực, nhưng có nhất thiết phải đặt thật nhiều hòm công đức ở chùa chiền hay không lại là một vấn đề khác. Bởi vì, theo cách nhìn nhận của người tu hành, cửa chùa là nơi tôn nghiêm, không có sự bon chen, tính btoans tiền bạc, con người đến để giãi bày những tâm tư, nguyện vọng thầm kín của mình và cảm thấy giảm bớt những lo âu, căng thẳng trong cuộc sống thường nhật. Người đến chùa chiền dâng lễ chỉ được mang hương hoa quả, tránh mang những đồ lễ như tiền bạc, thực phẩm gia súc, gia cầm. Thế nhưng, sự hiện diện của những hòm công đức lại phản ánh một sắc màu khác. Người đến chùa chiền chỉ có đặt lễ tiền bạc thì mới có tiền để vào hòm công đức. Bác Mai Văn Tâm ở Hà Tây, người vẫn thường đi chùa, có nói: “Có lần, tôi thấy cảnh mấy người khách nước ngoài chụp rất nhiều hình ảnh đặt tiền lên bàn thờ và bỏ tiền vào hòm công đức của ta. Hình như, họ ngạc nhiên lắm thì phải”. Có lẽ, những người khách Tây cho rằng đấy là tập quán của người Việt Nam nên họ chụp làm kỷ niệm hay chăng? Trước đây, hòm công đức không có nhiều như bây giờ thì chùa chiềng vẫn được các nhà hảo tâm cùng tiến để sửa sang, tôn tạo. Và bây giờ rất nhiều hòm công đức thì các nhà hảo tâm vẫn cúng tiến. Sự tồn tại quá nhiều hòm công đức đã không những không làm tôn thêm nét đẹp văn hóa của người dân ta mà còn tạo ra những cảnh tính toán xô bồ để hình thành các loại công đức mới.
Tại một số chùa mà người viết đã tiếp cận như chùa Dâu, đền Mẫu (Phủ Giày)… ngoài vô số những hòm công đức được kê đặt ở các ban thờ lễ, nhà chùa ở đây còn kiến tạo những bảng giấy khổ (15-20cm), nền vàng, chữ đỏ để ghi số tiền công đức cho khách thập phương. Như vậy, khách chỉ việc đặt tờ giấy đó lên bàn thờ và không cần đặt lễ gì cho tiện. Tuy nhiên, trong đoàn đi thăm di tích hôm đó có một bác đề nghị nhà chùa ở chùa Dâu ghi lại số tiền công đức của đoàn vào trong sổ cúng tiến của nhà chùa. Nhưng một vị sư lên tiếng là không cần thiết phải như vậy và cầm số tiền cúng tiến cài luôn vào cạp quần. Hành động đó khiến mọi người thật ngạc nhiên song không biết làm thế nào. Trong khi đó, rải rác ở các đền, chùa quanh khu Phủ Giày – Nam Định, mỗi lần khách cúng tiến không chỉ được phát tờ giấy ghi công đức mà còn được bắc loa phóng thanh rất to để tất cả mọi người nghe thấy. Điều đó khiến ai đang chú tâm cầu khấn cũng phải giật mình, mất đi vẻ yên tĩnh nơi cửa chùa. Chị Vinh, người Hà Nội cũng phải bật nói với mọi người xung quanh: “Mình cúng tiến là từ cái tâm của mình, đâu có mong muốn được quảng cáo trên loa đài”.
Khi Nhà nước cho tự do tín ngưỡng đồng thời với nền kinh tế ngày càng phát triển thì sự quan tâm đến chùa chiền ngày càng cao. Khách thập phương từ mọi miền Tổ quốc đến Việt kiều đều tham gia cúng tiến, để trùng tu, tôn tạo chùa chiền của quê hương, tổ tiên thật khang trang, to đẹp. Đó là cách nhìn thật nhân văn, đúng với tâm nguyện và ý thức văn hóa của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, dựa vào sự quan tâm đó, chùa chiền và đình, đền nói chung đang phần nào đi chệch hướng với tôn chỉ của chính đền chùa đồng thời lại tạo ra một cái nhìn không đẹp với du khách nước ngoài khi đến thăm phong cảnh và nếp sống thanh bạch của chùa chiền nước ta. Bên cạnh đó, với những hình thức công đức như trên sẽ gây ra những hành động tiêu cực.
Nhìn chung, đi chùa chiền cúng lễ và công đức từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa của mỗi người dân Việt Nam, song nét đẹp đó phải được xuất phát từ cái tâm của con người. Để tạo điều kiện cho những hành động công đức là nét đẹp văn hóa thì chính các ban quản lý chùa chiền, đình đền nên thống nhất hình thức công đức cho phù hợp hơn với bản sắc của cửa Phật, cửa đền, vừa đẹp tâm nguyện của lòng người.
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Vui buồn bữa ăn chiêu đãi

Thực hiện một bữa ăn chiêu đãi không nên chỉ quan tâm đến cách nấu nướng ngon lành, mà còn phải hiểu khẩu vị người ăn ra sao để thiết kế một thực đơn hoàn chỉnh và hợp lý là điều rất quan trọng.
Những mẫu chuyện, ăn uống có thật đã từng để lại những kỷ niệm… đáng buồn. Hồi mới giải phóng Thủ đô, ta đưa một đoàn đại biểu miền núi về thăm Hà Nội. Chủ, khách ngồi ghế băng trên xe tải, vượt sông qua phà vất vả hàng trăm cây số. Mãi tới 3 giờ chiều khách mới được chiêu đãi bữa… cơm trưa linh đình, nhưng cơm đã khô cứng và canh thì nguội lạnh, các món xào nấu đông đặc. Khách đi đường xa mệt nhọc, ngồi vào mâm món có nhiều nhưng ăn chẳng được. Nội bộ nơi đoán khách trách móc nhau không biết nấu ăn, phục vụ không khéo léo. Rốt cuộc chủ và khách đều… buồn.
Lại một lần khác ở một thị trấn vùng lúa Thái Bình được đón tiếp một đoàn đại biểu nhiều nước mà thực đơn thì chỉ có những món thịt lợn. Ý nói rằng nơi khách đến “gạo trắng nước trong, rượu ngon lợn béo”. Đến khi vào bàn, một số lớn đại biểu theo đạo Hồi đành phải im lặng ngồi ăn chuối tiêu tráng miệng chờ bữa. Mãi sau chủ nhà mới được nghe nói người theo đạo Hồi không bao giờ ăn thịt heo.
Chưa hết. Một đoàn đại biểu hòa bình thế giới thuộc Liên Xô (cũ) được mời ăn hai món đặc sản là chim câu hầm và ba ba tần. Khi thức ăn đặt lên bàn, bà trưởng đoàn rú lên vì ghê các món gọi là đặc sản ây. Nguyên do là người Liên Xô không bao giờ ăn thịt chim bồ câu. Những đàn chim bồ câu đông chật sân điện Kremly chỉ nuôi để tượng trưng cho Hòa bình mà chưa một ai có ý đụng tới.
Những vụ chiêu đãi khờ khạo đó thuộc trách nhiệm của người ra thực đơn, những nhà bếp, nhà bàn cũng cần thận trọng khi mời khách ăn, nhất là các đoàn đại biểu. Chủ tiệc và người Metđôten phải nắm vững thành phần của đoàn thuộc quốc gia nào, nam, nữ, tuổi tác bao nhiêu, tính chất hoạt động của đoàn… để nghiên cứu thực đơn phù hợp, tạo bầu không khí đầm ấm vui vẻ cho cả chủ lẫn khách. Như có một lần ta tiếp một vụ trưởng văn hóa quần chúng Slovakia sang Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này ở nước ta. Bộ Văn hóa – Thông tin đã mời khách về phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) cùng ăn tết Nguyên Đán với dân làng. Bữa cơm có bánh chưng, giò lụa, chả quế, thịt kho tàu. Khách ngồi ăn cùng với gia đình. Trước khi ăn, khách mời rượu các bô lão, thắp hương bàn thờ tổ tiên, đốt pháo (hồi đó chưa cấm), thủ thỉ với nhau những lời chúc mừng năm mới, tặng nhau những tờ tranh Đông Hồ… Khách ra về mang theo ấn tượng đẹp vì với khách cuộc gặp cũng là bài học bổ ích về ẩm thực Việt Nam, về phong tục tập quán làng quê ta.
Lần khác, ta tiếp đoàn đại biểu văn hóa Liên Xô (cũ) vào lúc 14 giờ tại Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Nơi tiếp là phòng khách Chủ tịch thành phố, bày biện toàn tiện nghi sản xuất trong nước: bàn ghế bằng may tre, khăn bàn và rèm cửa bằng sợi thêu ren, trên tường treo tranh sơn mài, tranh dệt thủ công. Bữa tiệc trà càng làm cho khách thích thú vì được thưởng thức trà mạng ướp sen, nếm các loại bánh, mức tuy không bày nhiều nhưng rất tinh tế, ý nhị. Khách vừa thưởng thức vừa được nghe giới thiệu các loại bánh mức Việt Nam và nghe chị Ái Liên hát dân ca quan họ và vọng cổ. Phải nói là bữa tiệc rất Việt Nam, rất đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, công ấy là của người Metđôten biết chọn địa điểm, biết chọn món ăn đồ uống và biết “cắt” người phục vụ điệu nghệ.
Năm 2008: tầng Ozon sẽ được và kín các lỗ thủng. Con người có thể du lịch trong vũ trụ. Con người cũng có nhiều thời gian rãnh rỗi để vui chơi giải trí hơn bởi máy tính sẽ giúp họ chuẩn bị bữa ăn, chuẩn bị cho các cuộc họp. .. Năm 2009 phát minh ra công nghệ cấy ghép gên lạ vào nhiễm sắc thể. Làm ra mưa nhân tạo phục vụ nông nghiệp và cải tạo các vùng khô cằn và các vùng đất mặn hay sa mạc cũng được dùng để canh tác. Thành phố đại dương được xây dựng.
Tơ hồng
Theo câu quan họ tôi tìm
Không lời hẹn, vẫn cứ lên với người
Nón quai thao gặp đầy rắc rối!
Vành trăng che nửa nụ cười trao duyên…
Tôi về đây với Hội Lim
Qua cầu muốn lội xuống tìm ca dao
Áo tứ thân chợt thoáng qua
Đã nghe thấy nhịp đạm đà trống Cơm.
Gặp người, chưa kịp làm quen
Liền anh bỗng tới kéo liền chị đi!
Sông Cầu ghen – sóng thầm thì
Mái chèo khua, dáng thuyền đi nhạt nhòa…
Trách gì con nhện thoáng qua
Tơ chăng mỏng mảnh gió lùa tơ bung!
Trống Cơm ai vỗ bập bùng,
Áo tứ thân chắc ướt đẫm như mưa?
Hội Lim có tự ngàn xưa
Về đây vẫn thấy bất ngờ – hội Lim
Vịn câu quan họ tôi tìm
Người ơi có hẹn tôi lên? Một ngày
Mai Khâu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Hàn quốc đưa sân bay ichon vào hoạt động

Hàn Quốc đã chính thức đưa sân bay Quốc tế Inchon ở gần thủ đô Seoul vào hoạt động từ 29/3 thay thế sân bay Kimpo đã quá tải.
Sân bay Inchon được xây dựng với chi phí 8.000 tỉ wôn đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử hàng không của Hàn Quốc. Sân bay Inchon cách Seoul 50 km về phía tây có thể đưa đón 27 triệu khách và vận chuyển 1,7 triệu tấn hàng mỗi năm.
Dự tính đến năm 2020, sân bay có khả năng cung cấp dịch vụ cho 530.000 chuyến bay, chuyên chở 100 triệu hành khách và 7 triệu tấn hàng/năm và sân bay sẽ hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.
Lần đầu tiên người đức chi trên 100 tỷ mác cho du lịch
Đối với nhiều người Đức hai từ “mùa hè”, “nghỉ phép” đồng nghĩa với du lịch. Năm nay sẽ là năm đầu tiên người Đức chi cho du lịch vượt con số 100 tỷ Mác. Năm 2000 chi phí cho du lịch đã tăng 6% và đạt mức kỷ lục là 96 tỷ Mác. Theo một công trình nghiên cứu của Ngân hàng Dresden thì sau Hoa Kỳ, Đức là cường quốc xếp hàng thứ hai về chu du thế giới. Xếp hàng thứ ba với khoảng cách khá xa là Nhật Bản, tiếp theo là Anh, Pháp và Italia.
Thị xã sầm sơn đón nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và khai trương mùa du lịch
Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn (Thanh Hóa) sẽ tổ chức kỷ niệm 111 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 20 năm ngày thành lập thị xã, lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và khai trương mùa du lịch hè 2001 vào ngày 18/5/2001. Đại biểu của các tỉnh, thành cùng nhiều du khách trong và ngoài nước sẽ đến dự. Chương trình lễ hội diễn ra với quy mô lớn, bao gồm nhiều hoạt động văn hóa và thể thao: diễu hành biểu dương lực lượng, hội diễn văn nghệ quần chúng, đua thuyền trên biển, thi đấu bóng bàn, cầu lông và các trò chơi dân gian…
Rừng guy-an, một tủ thực phẩm tươi sống
Cai-man, nguồn thực phẩm chính của Guy-an:
Guy-an, một đất nước rộng 90.000 km2, nằm ở Đông Bắc Nam Mỹ, giáp với Đại Tây Dương. Dân số hiện nay khoảng một triệu người ( thống kê năm 1982 là 73 nghìn) gồm người da đỏ, người của châu Phi đến trước kia bị bắt làm nô lệ sang châu Mỹ, người Pháp và có cả một số người H’Mông ở Đông Dương di tản tới sau năm 1975.
Kinh tế của đất nước Guy-an là nông nghiệp, săn bắn, hái lượm trong rừng.
Rừng Guy-an là rừng nhiệt đới, chiếm tới 90% diện tích lãnh thổ – Do mật độ dân số thưa thớt nên các thú rừng sinh sôi nảy nở thuận lợi và là nguồn thực phẩm dồi dào cho người dân bản địa. Tại Guy-an, việc săn bắn các thú rừng gần như tự do và trên toàn lãnh thổ Guy-an chỉ có 3 trạm kiểm lâm với số nhân viên ít ỏi.
Hàng ngày, người dân Guy-an đi vào rừng săn thú. Còn ban đêm, họ dùng thuyền độc mộc để săn cai-man. Cô thiếu nữ bơi thong thả trên sông, trán cô đeo một chiếc đèn soi chạy bằng điện ắc-quy. Cô soi đèn quét trên mặt sông, phải mất 1 giờ sau mới bắn được một con dài tới 5m. Tôi hỏi cô thiếu nữ về chất lượng thịt của cai-man. Cô cho hay, thịt cai-man không ngon bằng thịt gà nhưng hơn hẳn thịt rắn. Tuy nhiên loại cai-man dễ săn hơn và da của loại cá sấu này có màu sắc đẹp, có giá đắt, dùng để làm các loại cặp, túi sách cao cấp. Người dân Guy-an ưa thích thịt cá sấu nướng. Họ uống bia, rượu và thức ăn không thể thiếu thịt cá sấu nướng để nhấm nháp, lai rai. Ở Guy-an có tới 4 loại cá sấu: loại cá sấu đen dài tới 4-5m. Loại này bị cấm săn bắn, nhưng hiện nay cũng gần tuyệt chủng và chỉ thấy nuôi ở các vườn bách thảo. Những thợ săn họa hoằn lắm mới gặp cá sấu đen ở trên các đầm lầy.
Ngoài ra còn loài cá sấu đeo kính, loại đầu đỏ, đầu xám.
Guy-an là một kho gen động vật quý hiếm:
Xin kể một số thú, chim quý hiếm:
Loại ếch có da màu sặc sỡ: đem về châu u bán với giá 1500 frăng/con, bò sát giá 1000 frăng/con (quy ra đô la, giá 200 đôla/một con ếch).
Loại sáo sậu Picôlét – Loại chim này có bộ lông sặc sỡ và hót rất hay. Hàng năm, người dân địa phương tổ chức thi cho những con sáo này xem con nào hót hay và có bộ lông đẹp.
Aguti – loài gậm nhấm, có bộ lông xám, chân cao, to như con thỏ rừng.
Trứng rùa biển – Vào mùa rùa biển đẻ, những con rùa biển lên bờ đẻ trứng. Những người Suriman ở quốc gia láng giềng thường đột nhập vào Guy-an lấy trộm trứng. Trong một đêm họ có thể thu lượm được 4000 quả trứng rùa, đem về Suriman bán với giá 3 frăng/quả. Như vậy một đêm họ thu được 12000 frăng Pháp bằng 1700 đôla. Trứng rùa Guy-an đắt vì người ta cho rằng trứng rùa rất bổ, tăng sinh lực và bổ dưỡng v.v…
Thú rừng và chim rừng ở Guy-an phong phú. Động vật có vú tới 189 loài, bò sát 100 loài, ếch nhái 110 loài. Vì dân số ít nên rừng còn tồn tại, lãnh địa các thú rừng được bảo vệ. Do đó thú rừng Guy-an phong phú và rừng nhiệt đới Guy-an được coi như một tủ thực phẩm cho người dân bản xứ.
Guy-an hiện nay là một tỉnh hải ngoại của Pháp. Vì vậy ngôn ngữ quốc gia ở đây là tiếng Pháp. Nền kinh tế Guy-an còn nghèo nàn. Ngoài săn bắn, hái lượm, trồng trọt, họ còn khai thác vàng, khai thác quặng nhôm để xuất khẩu.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Một chút với “học quên để nhớ”

“Độc đáo và hấp dẫn”! Đó là nhận xét chung của nhiều người khi cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình “Học quên để nhớ” của nhà thơ Đặng Vương Hưng.
Quả là độc đáo khi trong hơn 100 trang in khổ nhỏ, ngoài 39 bài lục bát chọn lọc, còn có sự góp mặt của hơn 30 tác giả, là nhà thơ, nhà văn, nhà báo… với những lời bình sâu sắc và tinh tế. Tôi không dám nhận xét bài nào hay, bài nào chưa, mà chỉ muốn nói rằng, với cách đưa các lời bình vào tập thơ, Đặng Vương Hưng đã cho người đọc một cơ hội hiểu rằng, cách cảm nhận về cùng một bài thơ thật vô cùng phong phú, phần nào mang dáng dấp cá tính, trạng huống và hoàn cảnh của người đọc. Bởi đôi khi, cùng một bài thơ mà có sự thẩm định hoàn toàn dị biệt. Có lẽ, đây cũng là thành công của nhà thơ khi đã mạnh dạng dâng tặng bạn đọc một món ăn tinh thần đầy sáng tạo. Chả thế mà ngay sau khi “trình làng”, đã có khoảng 3.000 lá thư gửi về 100 Yết Kiêu xin được tặng và mua sách. Hẳn rằng, số tác giả có được niềm hạnh phúc này không nhiều!
Bên cạnh sự độc đáo, còn một điều nữa khiến tập thơ dễ dàng được công chúng đón nhận: Sự hấp dẫn của từng bài thơ. Hơn 10 năm trước, những bài thơ “Nỗi nhớ”, “Lại xa”, “Viết cho em từ biên giới” đã được không ít sinh viên thuộc lòng. Nhiều người vì yêu thơ mà… mến tác giả dù chưa gặp mặt. Đến nỗi, trong tập thơ chọn này, có bạn đọc đã viết thư “chất vấn” tác giả vì sao lại cắt bỏ 6 câu trong một bài đã đăng từ 10 năm trước!
“Văn học là nhân học”! Thơ Hưng phản ánh rõ nét con người, tình cảm của anh: dung dị, chân thành và dễ thương. Trong thơ, Hưng không giấu được mình. Những dấu ấn trong thời lính in hằn thật rõ với nỗi buồn, nhớ quê hương, nơi có người vợ tần tảo, rất mực thương yêu của anh ngóng đợi. Tâm trạng anh vương trong từng câu thơ, đằm thắm và da diết, trong sáng và hồn hậu như cuộc sống của người lính vùng biên.
“Phiên gác thức với đêm dài
Thời gian trôi chậm gấp hai ở nhà”
(Viết cho em từ biên giới)
Sự trải nghiệm của cuộc sống với bao suy tư, day dứt âm thầm cũng đằm sâu trong thơ Hưng khi anh “Từ rừng về phố”. Mỗi câu thơ như chứa chất tâm sự khắc khoải và bất an, khát khao và đau khổ. Trái tim thi sĩ đã luôn luôn nhạy cảm để rung lên khát vọng đời mình, có khi chỉ vì một lần “Lỗi hẹn”, hay “Nhớ Hải Phòng” hoặc dành nỗi niềm “Gửi người trong mơ”… Nhưng đáng nói là, trải nghiệm rồi, cùng với dáng nét, âm hưởng khác là sự có nghề hơn trong thơ Hưng. Nhiều bài, mới đọc, cứ tưởng là vu vơ như câu chuyện đi ở trọ một đêm, vậy mà, bất ngờ buông ra lời giãi bày xa xót đến nao lòng:
“Em đi ở trọ người ta
Còn tôi ở trọ ngay nhà mình thôi”
(Ở trọ)
Ở bài khác, anh bắt đầu “Giá như đời cũng như mơ”, hết sức dông dài, ngỡ sẽ là một ước ao hạnh phúc như thường gặp. Thế mà, lời kết lại trầm xuống trong tiếng vọng thẳm sâu, lắng lại trong lòng người đọc:
“Nếu như chưa vợ chưa chồng
Liệu rằng em có bằng lòng yêu anh?”
Trong mỗi bài thơ của Hưng, người đọc đều có thể tìm ở đó bóng dáng, tâm trạng mình, để lấy đó làm nguồn vui, sự an ủi hay điểm tựa vươn lên. Hơn 20 năm làm thơ, Hưng đã trải lòng ra với cuộc đời, để sẻ chia cùng mọi người, cũng là để “bâng khuâng bừng thức, lắng suy và chiêm nghiệm” (Nguyễn Trọng Hoàn) trước cuộc sống còn nhiều bộn bề và:
“Tôi giờ còn lại chiêm bao
Cố trần tục để thanh tao kiếp người”
(Học quên để nhớ)
Một chữ “cố” gửi trong câu thơ, đủ nói được trái tim tinh tế của Hưng phải vĩnh viễn thuộc về nàng thơ, không thể khác!
Hội an trong lòng người nhật
Tại thành phốNagoya (Nhật Bản), ở một ngôi chùa cổ, có giữ một bức tranh thêu vải dài 5 mét và cao 80cm. Bức tranh thêu mô tả quang cảnh bến cảng, mọi người đang bốc xếp hàng hóa, và có những ngôi nhà hai tầng kiểu Nhật Bản. Theo ông Minaka – một nhà nghiên cứu Nhật, đó là cảnh thị xã Hội An của Việt Nam.
Thời ấy, một thương nhân Nhật là Kioshuro cùng với 300 người đã lên tàu rời cảng Nagasaki, họ đến Việt Nam mất 40 người đi biển. Nhật Bản lúc ấy chỉ sản xuất thứ vải Satsumaka, màu xanh nhạt hoặc màu chàm, trang trí hình chim muông, hoa, lá… Sau đó, xuất hiện loại vải bông sọc, trang trí lạ mắt và được dùng trong tranh khắc gỗ. Loại vải này có nguồn gốc từ sự giao lưu với Đông Nam Á, mãi đến thế kỷ 19 bị cơ giới hóa làm cho mất đi.
Trong sử thời vua Êdo có ghi lại, năm 1631, ông Kirôtê, một thương nhân Nhật Bản đã sang định cư tại Hội An. Ông lấy vợ là người Việt. Hàng hóa ông gửi về Nhật gồm có vải bông sọc và trầu, ngược lại ông cũng yêu cầu gửi sang đồ ăn và quần áo…
Hội An như thế đã có mối quan hệ giao lưu lâu đời với người Nhật, là xuất xứ của loại vải bông sọc ở Nhật, một mặt hàng có giá trị truyền thống cao.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Du lịch kinh tế mũi nhọn

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn báo du lịch: Chúng ta cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phóng viên: Thưa tổng Bí thư, trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Ban chấp hành Trung ương xây dựng để trình Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng có nhấn mạnh cần phải phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Xin tổng bí thư nói với độc giả rõ hơn về vấn đề này?
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Những năm gần đây Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy du lịch phát triển. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII đã ra Chỉ thị 46 – CT/ TW (ngày 14/ 10/ 1994) về “Lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới”. Gần đây, ngày 11/ 11/1998 Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã thảo luận và nhất trí với kết luận một số định hướng lớn phát triển du lịch trong tình hình mới. Thực hiện các chủ trương trên Nhà nước đã ban hành pháp lệnh Du lịch, thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, xây dựng nhiều kế hoạch hành động thiết thực. Nhờ vậy trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới kinh tế.
Mục tiêu lớn nhất về chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước ta trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo quy định theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng về mọi mặt để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện thành công chiến lược này, ngành Du lịch với một số ngành dịch vụ có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng cường tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Vì thế, chúng ta cần phải phát triển Du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phóng viên: Để ngành du lịch xứng đáng với vị trí mới này, xin Tổng Bí thư cho biết ngành Du lịch cần phải làm gì?
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: Trước hết, cần giữ mức tăng trưởng tổng doanh thu của ngành trong giai đoạn này từ 9 – 10%/ năm thông qua nâng cao chất lượng và hiệu quả du lịch trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử. Cần liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch nhằm tạo động lực tổng hợp thúc đẩy du lịch phát triển. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Chúng ta cần xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch./
Phóng viên: Xin cảm ơn Tổng Bí thư.
Du lịch
Tích cực tham gia các hội chợ và các sự kiện du lịch quốc tế. Tổ chức phát động thị trường du lịch ở các thị trường mới và giàu tiềm năng. Tăng cường mối quan hệ giữa lữ hành và khách sạn… Các trung tâm lữ hành sẽ ưu tiên đưa khách đến các khách sạn có chất lượng phục vụ tốt, giá cả phải chăng. Các khách sạn cần nâng cấp, nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả quản lý để có sản phẩm du lịch chất lượng cao. Các hoạt động lữ hành phải gắn với các loại hình vận tải chuyển khách; đường không, đường sắt, đường thủy và các khu vui chơi giải trí, tạo thành hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao, hấp dẫn.
Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên để đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch các chương trình du lịch. Cải tiến các thủ tục ra vào của khách hơn nữa, tạo thuận lợi cho khách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động lữ hành.
Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các nước. Tiến hành nối mạng Internet, nâng cao chất lượng quản lý, phục vụ khách.
Ngăn chặn hiện tượng lợi dụng danh nghĩa chỉ làm visa cho người nước ngoài núp bóng, làm điều phối viên và các hoạt động không lành mạnh khác…
Hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ có bước phát triển mới, góp phần cùng toàn ngành phấn đấu năm 2001 đạt mục tiêu đón 2,2 triệu lượt khách quốc tế, để Ngành du lịch xứng đáng là ngành kinh tế tổng hợp, kinh tế mũi nhọn của đất nước, để trong vòng vài năm tới du lịch Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến về du lịch trong khu vực, để Việt Nam là Điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Du lịch trên kênh đào Erie
Vào đầu thế kỷ 19, kênh đào là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của hành khách lẫn hàng hóa và cũng tạo cho du lịch đường thủy phát triển.
Kênh đào Erie là kênh đào nổi tiếng nhất nước Mỹ, được khởi công vào năm 1817. Sau 8 năm lao động vất vả của hàng trăm công nhân, kênh được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1825. Kênh Erie chạy suốt từ sông Hudson ở Albany (New York) đến hồ Erie ở Buffalo dài 363 dặm (khoảng 584 km).
Đi du lịch bằng thuyền trên kênh Erie rất thú vị nhưng cũng có những bất tiện, đó là phần lớn các cầu trên kênh đào đều thấp, do đó khi đi qua các cầu trên kênh đào hành khách phải nằm bẹp xuống hoặc chịu nguy cơ bị quét khỏi tàu. Mặc dù có những bất tiện trên, nhưng kênh đào Erie hàng năm vẫn thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan.
Hoàng Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001