Bách Thảo nơi diễn ra Du lịch Hà Nội ‘99 – Phần 1

Theo sử sách ghi lại thì vườn Bách Thảo xưa còn có tên gọi là trại Hàng Hoa thuộc đất của các làng Khấn Sơn, Ngọc Hà, Thanh Bảo – tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận. Vào năm 1890 thực dân Pháp đã dời dân vào ở Vùng này đi để lấy đất xây Phủ toàn quyền và đến năm 1905 – 1910 thì cử một số kỹ thuật viên nông lâm người Pháp như Lelan, Delaford, Chucod… đến làm nhiệm vụ khảo sát để chuẩn bị cho việc thành lập một vườn thực vật cũng ở khu vực này. Mục đích ban đầu của người Pháp khi cho thành lập vườn Bách thảo là nhằm sưu tầm những loài cây quý hiếm ở bản địa và ở khắp mọi nơi trên thế giới về trồng để tạo thành một vườn cây phong phú, đặc sắc, có tác dụng cải tạo môi trường, kết hợp với việc nghiên cứu, thí nghiệm thực vật và đồng thời còn làm nơi tham quan thưởng ngoạn.
Ban đầu vườn rộng khoảng 18 ha nhưng từ năm 1972 một phần diện tích của vườn được lấy làm đất xây dựng khu lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nên giờ đây diện tích còn lại của vườn là 11 ha với tổng chu vi là 1700m. Hiện tại, vườn nằm ở phía đông nam hồ Tây, ranh giới phía bắc và tây bắc là đường Hoàng Hoa Thám, đông và đông nam là phố Ngọc Hà thuộc quận Ba Đình.Trong vườn hiện nay còn dấu tích của nhiều địa danh lịch sử như Núi Nùng (có tài liệu gọi là núi Sưa, núi Khán) cao khoảng 90m, trên núi có miếu thờ thần Long Đỗ nên còn được gọi là núi Rốn Rồng. Theo quan niệm của người Thăng Long xưa núi này tượng trưng cho sự tiếp giáp giữa trời và đất. Ngoài ra trong vườn còn có nhiều ngôi miếu khác như miếu Hội Đồng do nhà Nguyễn Lập ra để thờ bách thần, đền thờ Mai Hắc Đế làm từ thời nhà Lê. Giữa vườn có một chiếc hồ bên dưới trồng rất nhiều sen, chiều dài của hồ là 265m, chiều rộng khoảng 30m nên có tên gọi là Hồ Dài. Bên cạnh hồ Dài là hồ Vị Danh có chiều dài 157m, chiều rộng là 92m, ở giữa hồ có một hòn đảo nhỏ gọi là đảo con Nhện. Nếu đi từ cửa phía Đông bắc vào sẽ gặp ngay một đống xác B52 của giặc Mỹ đang nằm phơi mình tại đó.
Nhưng có lẽ ấn tượng không thể quên được của mọi người khi tới vườn Bách Thảo là ở đây có rất nhiều cây xanh quanh năm tỏa bóng mát và là lá phổi xanh của thủ đô Hà Nội. Với chức năng là một vườn thực vật Bách Thảo hiện nay là nơi quy tụ của hàng trăm loài thực vật khác nhau được dẫn giống từ khắp mọi miền trên thế giới: từ những cây của miền viễn tây châu Mỹ như nhội đàn, giâng đậu, của châu Đại Dương như phi lao, bạch đàn, đa độc lập, cau đuôi dầu, phượng vĩ… đến những cây có nguồn gốc gần gũi thuộc châu Á như đa búp đỏ của Ấn Độ, bàng của Malaixia, cây láng giềng nguyên sản của đông nam Trung Hoa như long não, cọ xẻ… rồi những cây bản địa có giá trị kinh tế cao về gỗ hay đặc sắc về tình trạng thực vật của hai miền Nam – Bắc nước ta như gụ mộc, chò nâu, lát hoa, lá gồi…đều có mặt trong bộ sưu tập giống cây của vườn Bách Thảo.
Trần Duy Hưng – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Khơi dậy tiềm năng vùng biển

Nhân ngày khởi công xây dựng quy hoạch khu bãi tắm Mũi Nai – Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) – vùng du lịch biển đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long, phóng viên Báo Tuần Du Lịch đã gặp gỡ trao đổi cùng ông Nguyễn Minh Lời – Trưởng ban quản lý các khu du lịch Kiên Giang.
-Phóng viên: Thưa ông, vậy là biển Mũi Nai – Hà Tiên đã được chọn là điểm du lịch tắm biển và nghỉ mát lý tưởng nhất vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Ông có thể cho bạn đọc Tuần Du Lịch biết đôi nét về những lợi thế và định hướng phát triển vùng du lịch này trong tương lai?
-Ông Nguyễn Minh Lời: Coi biển Mũi Nai – Hà Tiên là điểm du lịch tắm biển và nghỉ mát lý tưởng nhất trong vùng ven biển đồng bằng Nam Bộ là hoàn toàn hợp lý. Vì rằng theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 5/1995 cũng như qua các nhà chuyên gia khảo sát các điểm vùng du lịch ven biển ở Nam Bộ như: biển Tân Thành (Tiền Giang), biển Thừa Đức (Bến Tre), biển Ba Động (Trà Vinh), biển Gành Hào (Bạc Liêu), biển Kinh Ba (Sóc Trăng), biển Đá Bạc (Cà Mau) và biển Mũi Nai – Hà Tiên (Kiên Giang) thì biển Mũi Nai – Hà Tiên được chọn và đánh giá cao nhất trong môi trường sinh thái du lịch biển Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Biển Mũi Nai có cát trắng nhuyễn, bãi biển phẳng, nước biển trong xanh, sạch, thời tiết tốt không có cường triều. Ven thềm biển là hàng dừa dày đặc, mát mẻ. Khu du lịch được chia ra làm 2: bãi trước và bãi sau, chính giữa là chóp Đối hình thể Đầu Nai. Từ bãi biển nhìn ra thấy đảo Phú Quốc và các hòn khác, ngoài biển trông vào giống như người khổng lồ dang đôi tay ôm lấy biển. Về tiềm năng, ngoài bố cục “phong thủy” hài hòa, cảnh quan hữu tình, bãi tắm Mũi Nai đã được người Việt và người Khme biết đến từ lâu. Theo nhiều tư liệu để lại (sau ngày đô thị cổ Hà Tiên ra đời – khoảng vào năm 1708 thời Chúa Nguyễn Minh Vương) khách “tàu buôn” Tây Phương và các nước Nam Á đã thường tới đây nghỉ mát và tắm biển.
-Phóng viên: Ông có thể cho biết cụ thể về cái đẹp?
-Ông Nguyễn Minh Lời: Cái “đẹp” ở đây không nằm trong ý nghĩa màu sắc, mà là cái “đẹp” toàn diện được xây dựng trên tinh thần quan điểm “phát triển du lịch bền vững”. Vì vậy, trước khi “bắt tay vào việc” triển khai xây dựng khu du lịch bãi tắm Mũi Nai, chúng tôi luôn xác định rõ trong vai trò và nhiệm vụ hiện tại của mình là phải thực hiện đúng định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch Việt Nam, phải đạt hiệu quả về nhiều mặt: kinh tế – chính trị – xã hội – an ninh quốc phòng – trật tự an toàn xã hội. Từ đó bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ phát huy truyền thống bản sắc dân tộc, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển du lịch của thế giới, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà Nước.
-Phóng viên: Xây dựng một công trình du lịch đạt những yếu tố trên là thiết thực “phát triển du lịch bền vững và quy mô”. Nhưng thưa ông, liệu bao giờ mới khởi công….và dự kiến ngày hoàn công…?
-Ông Nguyễn Minh Lời: Hiện tại qua sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo tỉnh và Sở Thương mại – Du lịch, chúng tôi đang cho triển khai xây dựng Bãi tắm Mũi Nai. Bước đầu giải quyết sắp xếp phần tái định cư ổn định, tiếp đến xây dựng hạ tầng cơ sở và các sản phẩm dịch vụ du lịch kế tiếp. Dự kiến hoàn công sơ bộ cho công trình này khoảng cuối năm 2000, và hoàn chỉnh đưa vào hoạt động khoảng đầu năm 2002.
-Phóng viên: Xin cảm ơn ông !
Lưu Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Sửa đổi, bổ sung chính sách về cổ phần hóa

Theo Bộ Tài chính, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đã tháo gỡ nhiều vướng mắc cho cơ sở do đó tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp hà nước đã được đẩy mạnh hơn, cho đến đầu tháng 8/1999 cả nước đã cổ phần hóa được 200 doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm thực hiện Nghị định 44/1998/NĐ-CP, có một số vướng mắc còn tồn tại trong quá trình cổ phần hóa cần được tháo gỡ. Những nội dung vừa được Bộ Tài chính trình thủ tướng Chính phủ cho sửa đổi, bổ sung một số điều hoặc khoản của Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 bao gồm: Về quyền được mua cổ phần trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, về sử dụng tiền bán cổ phần thuộc phần vốn Nhà nước; về xác định giá trị doanh nghiệp và gái bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước; về ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hóa; về phân cấp thẩm quyền quyết định xác định giá trị doanh nghiệp; về thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa và quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
Theo nội dung Nghị định này, các điều hoặc khoản được sửa đổi, bổ sung đều chặt chẽ nhưng thông thoáng hơn nhằm đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Thành lập quỹ hỗ trợ cổ phần hóa
Vừa qua, Bộ tài chính đã trình lên thủ tướng chính phủ dự thảo quy chế Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp và cổ phần hóa để Thủ tướng Chính phủ xem xét, có thể ban hành trong thời gian tới.
Mục đích chính của Quỹ này là phục vụ việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công nhân cho thích ứng với việc tổ chức, sắp xếp lại sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; dành một phần trợ cấp cho những người tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần và bổ sung thêm cổ phần cho những lao động có thu nhập thấp, thời gian công tác ngắn không đủ điều kiện để mua cổ phần ưu đãi. Ngoài ra, Quỹ còn có thể sử dụng cho những doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần và bổ sung thêm cổ phần và bổ sung thêm cổ phần cho những lao động có thu nhập thấp, thời gian công tác ngắn không đủ điều kiện để mua cổ phần ưu đãi. Ngoài ra, Quỹ còn có thể sử dụng cho những doanh nghiệp mà các đơn vị trực thuộc đang làm ăn yếu kém nhằm vực các đơn vị này lên để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa.
Nguồn hình thành Quỹ này bao gồm tiền bán cổ phần thuộc phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, ngoài ra còn có những nguồn khác như phần trợ cấp của ngân sách khi ngân sách nhà nước có điều kiện.
Thu Hà-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Khi “Quan phường” coi thường luật lệ.

Ở Huế, chuyện lấm chiếm đất đai, xây nhà trái phép, vi phạm lòng, lề đường… đang là vấn đề nổi cộm. Trong nhiều nguyên nhân, đáng chú ý là sự quản lý lỏng lẻo của cấp chính quyền ở cơ sở.
Xin nêu một chuyện cụ thể ở phường An Cựu – Huế. Ngoài việc quản lý không nghiêm về về việc chấp hành Luật Đất đai, phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Nguyễn Văn Thành còn vi phạm luật. Ông Thành xin đất làm nhà nhưng không chịu nộp tiền bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp. Trên không cấp quyết định cấp đất, ông nghiễm nhiên chiếm dụng 200 mét vuông đất mặt tiền đường Ngự Bình để làm nhà.
Nhân dân quanh vùng bàn tán rằng, mới phó Chủ tịch phường mà đã đặc quyền, đặc lợi trước mặt dân. Đơn từ thắc mắc, khiếu kiện, Đoàn thanh tra nhà đất tổng kiểm tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kết luận và có văn bản kháng nghị thu hồi việc giao đất không hợp pháp. Toàn thành phố có 11 trường hợp vi phạm, trong đó ở phường An Cựu có 4 trường hợp vi phạm. Sau khi có kết luận, nhiều người chấp hành lập thủ tục xin cấp đất mới. Riêng ông phó Chủ tịch phường Nguyễn Văn Thành cứ “làm ngơ” như không biết gì. Người dân An Cựu hỏi: Dân thường thì chấp hành tốt luật lệ sao cán bộ phường thì không ? Chuyện biết cả rồi sao lại để vậy ?
Khởi công xây dựng hệ thống cáp treo Bà Nà
Ngày 21-9-1999, tại khu du lịch Bà Nà đã tổ chức lễ khởi công xây dựng tuyến cáp treo Bà Nà với tổng kinh phí 25 tỷ đồng, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động vào ngày 29-3-2000 nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày giải phóng Đà Nẵng. Đây là hệ thống cáp treo thứ hai tại Việt Nam được xây dựng tại các khu du lịch và là dự án cáp treo đầu tiên tại miền Trung. Tuyến cáp treo được xây dựng có chiều dài 760 mét, từ độ cao 1320m đến 1450m, từ đồi Vọng Nguyệt sang đỉnh Bà Nà. Hệ thống cáp treo gồm 4 tổ hợp cabin, mỗi tổ hợp gồm 4 cabin, công suất thiết kế 318 người/giờ.
Dự án này do Công ty Du lịch Dịch vụ Đà Nẵng làm Chủ đầu tư. Thiết bị do Công ty Doppelmayr (Áo) cung cấp. Đây là một Công ty nổi tiếng trên thế giới đã cung cấp hàng trăm hệ thống cáp treo tại trên 100 nước trên thế giới. Dự án dự kiến sẽ thu hồi vốn trong vòng 9 năm. Công ty Vinaturbo (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư) là đơn vị trúng thầu xây dựng 4 trụ cáp. Thời gian tới sẽ mở thầu xây dựng 2 nhà ga cáp treo và lắp ráp vận hành máy.
Ngô Thị Hoàng Anh – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Chấn chỉnh công tác bảo vệ khu vực di sản văn hóa

Từ trước ngày giải phóng cho đến nay, tại khu vực sát Bờ Hồ (cửa Đông Ba) phía sau đường Trần Hưng Đạo, Phan Đăng Lưu và tại khu vực hồ Sen trước cổng Thượng Tứ, cửa Ngăn thuộc di tích Đại Nội có hàng trăm hộ dân lấn chiếm, xây cất nhà ở. Nhiều hộ đã tự ý đóng cọc bê tông, cọc thép làm nhà sàn gỗ lợp tôn, tạo nên cảnh quan phía sau hồ nhếch nhác, bẩn thỉu của đủ thứ rác thải. Tại Huế trước ngày giải phóng, nhiều hộ đã xây dựng nhà cửa kiên cố ở ngay trên nóc bờ thành di tích, họ đào giếng, kể cả khoan giếng, làm công trình vệ sinh, mở các loại dịch vụ bán cà phê, giải khát, kể cả trồng rau, cây ăn quả, chăn nuôi lợn…trên nóc thành làm hư hại, nứt rạn, rửa trôi, làm mất vẻ uy nghi, cổ kính của hệ thống di tích lịch sử này. Nếu cứ để tình trạng vi phạm này kéo dài, hệ thống thành quách của di sản sẽ bị trả giá, thiệt hại to lớn, không thể nào bù đắp lại được. Trước thực trạng đó, tỉnh Thừa Thiên – Huế, các ngành, thành phố Huế và Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã có kế hoạch giải tỏa 215 hộ dân cư trú sau bờ Hồ phía sau đường Trần Hưng Đạo đến khu vực cửa Thể Nhân. Từ nay đến năm 2000 tỉnh chủ trương kiên quyết giải tỏa 80 hộ sống sau bờ Hồ và trên thành quách, đe dọa sự an toàn, cảnh quan của hệ thống di tích Thành Đại Nội.
Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế cùng phối hợp với ngành Địa chính tỉnh tiến hành hoàn chỉnh hồ sơ đóng cột mốc khoanh vùng di tích, nhằm trình lên cấp trên có thẩm quyền cấp thẻ chủ quyền cho quần thể di tích lịch sử giá trị đó là: Lăng vua Thiệu Trị, Lăng vua Tự Đức, Lăng vua Đồng Khánh, Lăng vua Dục Đức, Đàn Hoàng Thành. Tại Lăng vua Dục Đức các cơ quan chức năng của Huế đã ngăn chặn không cho hai hộ dân cơi nới, xây dựng trái phép nhà cửa. Ở khu vực 1 thuộc di tích Lăng vua Thiệu Trị, tình trạng mở rộng chùa chiền đã vi phạm pháp luật bảo vệ di tích lịch sử và văn hóa đã được các cơ quan, chính quyền phát hiện, lập biên bản ngăn chặn.
Huế ngày càng thu hút đông du khách đến tham quan. Đã có hơn 40 hãng du lịch quốc tế có số du khách thuộc 50 quốc tịch khác nhau tổ chức nổi tour du lịch đến Huế. Bên cạnh sự phát triển về du lịch, nay Huế có nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời. Tình trạng đeo bám du khách, tranh mua tranh bán hàng hóa, vận chuyển hành khách đã làm phát sinh việc buôn bán giá cả lộn xộn, Hiện nay, các quầy bán hàng lưu niệm, các hàng quán bán giải khát ngoài khu vực di tích được các ngành sắp xếp lại bảo đảm thái độ người bán hàng nhã nhặn, lịch sự có văn hóa đối với du khách. Trước đây tại khu vực bến xe Nguyễn Hoàng, nơi để ô tô du lịch, có khoảng vài chục người thường đeo bám khách để bán hàng, quấy nhiễu khách, lực lượng công an Thành phố Huế, các trật tự viên của trung tâm Bảo tồn đã lập biên bản, bắt giữ xử phạt 14 trường hợp làm mất trật tự kiểu này. Vào đầu tháng 3/1999, tại khu vực Đàn Nam Giao phát hiện bọn côn đồ gây rối, cán bộ bảo vệ của Trung tâm bảo tồn làm nhiệm vụ can thiệp thì bị bọn côn đồ dùng dao chém trọng thương. Tại khu vực Cửa Ngăn (Đại Nội) để trả thù anh em trật tự viên nhắc nhở đối tượng đeo bám khách nhiều lần vi phạm nội quy trật tự tại khu vực di tích, kẻ côn đồ đã tấn công đánh trật tự viên. Công an thành phố Huế đã bắt tống giam nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự kẻ đánh người thi hành công vụ. Lực lượng công an tỉnh, công an Thành phố Huế kết hợp với trung tâm bảo tồn di tích Cố đô tổ chức 3 lớp tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ, phát hiện đối tượng nguy hiểm cho 150 nhân viên bảo vệ các khu di tích lịch sử Huế. Tỉnh Thừa Thiên – Huế đã cấp gần 200 triệu đồng cho việc triển khai quyết định 09 về công tác làm trong sạch môi trường tại các điểm di tích lịch sử văn hóa và các điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh.
Đức Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Xứ Huế “Ẩm thực tour” – phần 2

Men theo bờ bắc sông Hương ngược lên là sẽ gặp một khu phố bún thịt nướng. Cứ khoảng đầu chiều là các quán bắt đầu quạt than nướng thịt, vậy mà 5 giờ chiều ai đến trễ là kể như phải để bụng đói đợi đến chiều mai. Vì ở Huế không đâu ngon bằng bún thịt nướng Kim Long. Bởi vậy mà chỉ một quãng ngắn chừng 50 mét đường Kim Long đã có đến 5 quán, chúm chụm lại nhau, tạo nên một phố bún thịt nướng thật đông vui. Buổi chiều khói nướng thịt bốc lên ngào ngạt, du khách đi tham quan về bất kể đường sông hay đường bộ đều không thể nhắm mắt lướt qua. Cái món bún này không chỉ ngon ở cái mùi thơm quyến rũ mà bí quyết còn ở chỗ nước lèo hòa hợp tinh tế của đậu phộng, mè, tương, tỏi, ớt, nước mắm….Ông chủ quán Huyền Anh cho hay phố bún thịt nướng này đã được đưa vào sách “Le guide du Rontaret” (Pháp) từ 1995. Huyền Anh là quán mở đầu cho khu phố bún thịt nướng đang ăn nên làm ra này. Sắp tới, ông chủ quán sẽ làm một bến đậu cho thuyền rồng trên sông. Lúc đó, sợ thịt nướng không kịp cho khách ăn…
Sau khi đã dạo qua hết những phố bánh phường bún của Huế, là lúc nên ghé qua Cồn Hến để ăn món chè tráng miệng. Cái món chè nấu bằng bắp bãi Cồn Hến đã nổi tiếng từ bao năm nay. Bây giờ ở đây đã tụ họp một phố chè bắp với những cái tên rất “đặc sản” : Hương Giang, Hương Quê, Hương Xưa….Hầu như các nhóm khách trẻ đều thích tìm về đây. Không chỉ vì cái dẻo thơm của bắp nếp Cồn Hến mà có lẽ chính cái vẻ đặc trưng của phố chè ấy đã lưu giữ họ lâu hơn.
Tưởng cái Tour ẩm thực xứ Huế thế là quá đủ rồi, vậy mà bạn bè còn giới thiệu cho tôi một phố Ốc không kém phần độc đáo. Thật không ngờ ở cuối đường Phan Bội Châu, bên bãi đất hoang trước đây, bây giờ rộn ràng những bảng hiệu ốc, ốc….Điều đó, trước đây có thể ít người Huế nào chú ý. Còn bây giờ, khi những phố ăn hàng đang tạo ra một mảng văn hóa ẩm thực rất độc đáo thì phố ốc Trường An ấy đã ghi thêm cho phố Huế một phố ẩm thực hấp dẫn. Nhiều du khách đến Huế đã hỏi: Sao không mở một “Xứ Huế ẩm thực tour” với những phố ăn hàng dễ thương ấy, nhỉ ?
Minh Tự – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Xứ Huế “Ẩm thực tour” – phần 1

Trong một đêm mùa hè nóng bức, ghé vào phố bánh canh Hàn Thuyên, ăn một lúc hai tô cái món cháo đồng quê nhiệt đới ấy, mồ hôi cứ túa ra sảng khoái. Nhưng thú vị hơn chính là được ngồi giữa hai dãy hàng quán lung linh những ngọn đèn hạt đỗ. Người ta bảo rằng ở Huế bây giờ đã mọc lên những phố phường ẩm thực rất độc đáo từ những món ăn bình dân đặc sản ấy.
Cái thứ bánh như là món canh trong bữa cơm gia đình, nên có tên gọi là bánh canh. Cái món canh được nấu bằng sợi bột thái mỏng với tôm, cua, cá tràu (cá lóc)… và tất nhiên khi đã qua tay cô đầu bếp Huế thì nó không chỉ còn là canh nữa. Cái món bánh canh ấy hẳn là có một lịch sử thật dài, mà hình ảnh đáng nhớ nhất là đôi quang gánh bốc khói của các mệ, các dì lúc mờ sáng, khi nhá nhem. Và chừng hai năm nay những đôi quang gánh ấy không đi lại nhiều nữa mà đã tụ họp lại thành một khu phố bánh canh ở góc đường Hàn Thuyên trong Thành nội. Ở đấy có đủ loại bánh canh bột gạo, bột lọc, nấu đặc với tôm, cua hoặc nấu lỏng với cá tràu. Những đêm rằm, mồng một còn có cả bánh canh chay nấu bằng nấm rơm, khuôn đậu… Trời nóng bức nhưng tô bánh canh nhất thiết phải hôi hổi bốc khói, và ớt, và hành, và rau răm. Húp xong một tô là kể như mọi lỗ chân lông đều mở toang, mệt mỏi theo đó mà biến mất. Nhưng thú vị hơn là được ngồi ăn giữa hai dãy quán thắp sáng bằng những ngọn đèn dầu mà du khách từ Bắc vô gọi là đèn hạt đỗ, còn du khách từ Nam ra thì quả quyết là đèn hột vịt. Quang cảnh hệt như chợ m phủ ở Đà Lạt vào cái thời “tiền sử” của nó. Đến chừng nửa đêm thì phố tắt đèn. Sáng ra đã thấy một phố bánh canh khác mọc lên ở cửa ngõ phía Nam thành phố. Phố bánh canh Thủy Dương ra đời vào khoảng năm 1997, đến bây giờ thì đã không thể phân biệt được đâu là khách gần, khách xa. Người sành ăn thì mê bánh canh Thủy Dương hơn vì cái vị ngọt từ của cá tràu ở đây đích thị là đồng quê. Buổi sáng phải chạy xe cả 5 cây số để ăn cho được tô bánh canh. Nhưng điều quan trọng nhất là đoạn đường đơn điệu này đã trở nên một địa điểm ẩm thực cho khách. Một phố ăn hàng – nói theo cách của người bạn hướng dẫn viên du lịch Huế.
Những ngày sau, tôi còn được bạn bè Huế đưa đến nhiều phố “ăn hàng” đầy bản sắc như thế. Thật ra những thứ bánh trái, chè chén này không phải xa lạ gì với tôi, nhưng mấy năm trước làm gì có những phố ẩm thực như thế. Buổi sáng, bạn đưa tôi đến tham quan Phố Hến ở đường Trương Định. Một người bạn rất mê…hến kể rằng khu phố hến này bắt đầu từ một gánh cơm hến thường xuyên ngồi dưới mái hiên Morin. Từ khi du khách săn lùng các món bình dân “độc chiêu” này dữ quá, khiến nữ chủ nghĩ ra cách thuê mặt bằng mở hẳn một “Nhà hàng hến” ở nhà 7 Trương Định. Tôi nói với các hướng dẫn viên rằng tôi hết sức thích thú với cái ý tưởng Phố hến này, nhưng còn cái vị ngọt – bùi – chua – cay của cơm hến thì có lẽ phải tìm ở các gánh hến rong. Và tôi mong cho các gánh hàng ấy mau mau về với phố hến này, kẻo khách du đang nóng ruột chờ đợi… Còn bây giờ, vào những buổi chiều tôi vẫn thích la cà với những phố Bèo – Nậm – Lọc hơn. Có thể nói, bánh là một phần tài sản lớn trong kho tàng ẩm thực của Huế. Người Cố Đô tỏ ra khéo tay, khéo mắt và khéo cả lưỡi, cả mũi trong việc tạo nên cả “thế giới bánh” mà hầu hết đều bắt đầu từ một loại nguyên liệu là hạt gạo. Bèo – Nậm – Lọc – Ướt – Ít – Ram, tên của các loại bánh Huế cứ như một câu thơ, và nếu gọi ra cho hết thì cũng vừa một bài ngũ ngôn từ tuyệt. Từ khi khách thập phương đưa nó vào cẩm nang du lịch Huế thì những phố Bèo – Nậm – Lọc bắt đầu làm ăn chuyên nghiệp hơn. Khách quen ăn nhất là phố Bèo – Nậm – Lọc Cung An Định. Con hẻm chạy sát bờ thành tòa nhà này bây giờ có tên là hẻm Bèo – Nậm – Lọc. Nhưng còn có một địa chỉ Bèo – Nậm – Lọc tình tứ hơn, đó là quán Hương Cau của bà Đỏ ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thật khó mà diễn tả hết cái ngon từng loại bánh. Các cô gái thì thích bánh bèo vì cái vẻ cầu kỳ thú vị của nó. Ăn bánh bèo như thể ăn nghêu, cả một mâm gồm những chiếc chén nhỏ, trong đó có tráng một lớp bánh trắng nhân tôm chấy mỡ. Bọn trẻ con thì thích bánh nậm, bột gạo nhân tôm tráng mỏng trong lớp lá chuối hấp chín. Chỉ cái mùi lá chuối thoa mỡ bốc khói thôi là đã tiết hết dịch vị. Thực khách đàn ông thì thích bánh bột lọc hơn, bởi cái vị dẻo thơm của phiến bột trong veo bên trong nhìn rõ cả con tôm ôm lấy miếng thịt heo chấm với nước mắm ớt thanh khiết. Còn tôi thì thật tình vẫn thích cái cảm giác ngồi trong phố Bèo – Nậm – Lọc – Ướt – Ít – Ram mà vừa ăn vừa đọc các tấm biển hiệu đầy chất…thơ ấy.
Minh Tự – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Gió trong phố

Những dải cọ xanh trồng dọc phố
Đi về xe cộ vút đưa thoi
Có ai biết được cây vươn ngọn
Ngóng một trung du phía núi đồi
(Rút từ tập Phường gió nổi)
Không biết nhà thờ đã được lên những tầng cao của khách sạn Daewoo để ngắm những hàng cọ dưới sân vườn và những hàng cọ dọc đường Liễu Giai chưa, nhưng tôi đoán chắc ông đã không dưới chục lần đi tha thẩn dọc đường Liễu Giai – Nguyễn Chí Thanh, con đường với những hàng cây, bồn hoa đẹp nhất của Hà Nội thời mở cửa. Và tất nhiên ông đi tha thẩn chỉ cốt để ngắm cọ, thả hồn mình vào những tán cọ, để nhớ về một quá vãng, một vùng quê trung du máu thịt của ông, nơi đã làm nên một bản sắc thơ Ngô Văn Phú.
Những dải cọ xanh trồng dọc phố
Đi về xe cộ vút đưa thoi
Hai câu thơ trên có vẻ như một nhận xét, một thông tin bình thường. Nhưng tinh ý, sẽ thấy một sự phát hiện. Ấy là sự liên tưởng, so sánh một cách tinh tế giữa cái tĩnh và cái động, giữa chiều thẳng đứng và phương nằm ngang. Cây cọ đứng trầm lặng mà người, xe thì vun vút, hối hả một cách vô tình. Cây cọ vươn lên trời còn xe cộ thì chuyển động theo hai chiều con đường. Nhưng nếu chỉ vậy thôi thì có điều gì phải nói. Ngắm cây, nhìn xe cộ, ấy là chuyện thường tình. Chỉ riêng nhà thơ, người con của trung du rừng cọ đồi chè mới phát hiện ra cái điều này:
Có ai biết được cây vươn ngọn
Ngóng một trung du phía núi đồi
Cây ngóng, hay nhà thơ ngóng trung du? Ôi, những cây cọ đã mang về Hà Nội cả một sắc màu trung du, một vùng thiên nhiên, một vùng văn hóa khiến bất cứ ai từng sinh ra và lớn lên ở đó, giờ gặp lại cũng thấy nao lòng, thấy bồi hồi như chính mình đang được sống cùng miền quê thân thuộc.
Thì ra cây cũng mang cả hồn người, tình người. Chỉ một dải cọ xanh trồng dọc phố thôi cũng nói với chúng ta, nói hộ chúng ta biết bao nhớ nhung, kỷ niệm vui buồn và cả những khát vọng, những tâm tư thầm kín khó diễn tả bằng lời
Hoàng Dạ Vũ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Nghĩa cả đối với tài năng

Vợ chồng cụ Khóa dành 500 triệu đồng tặng cho Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Người có vinh dự được gặp Bác Hồ năm 1952
Trong nền kinh tế thị trường, ai cũng lo làm giàu cho mình, có người làm giàu bằng trí tuệ, tuân thủ luật pháp, biết trong nhân cách, nhưng cũng có người bóp nặn của nhà nước bằng những đồng tiền hối lộ sách nhiễu, và có cả hạng người buôn gian bán lậu, tìm đủ mọi cách” móc hầu bao” của dân. Lại có những người dùng đồng tiền kiếm được ném vào những cuộc “đỏ đen”, chơi đề, chơi hụi, họ, để mong có cơ may “phất to”. Cũng có người dựa vào đồng tiền, nuông chiều con cái, chơi ngông bằng chiếc xe phân khối lớn đời mới đua chạy trên đường phố, gây tai họa cho xã hội. Đồng tiền làm ra như vậy thực sự là nguồn gốc gây ra hiểm họa cho gia đình, mối lo của xã hội.
Cụ Phan Thị Khóa 80 tuổi ở Hà Nội, bằng sự chắc bóp của mình, tạo dựng cuộc sống đã có được số vốn an dưỡng lúc tuổi già. Dù ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, nghĩ đến bao em ngồi trên ghế của trường đại học còn khốn khó, muốn đem một phần tài sản còn lại trao cho quỹ tài năng trẻ Việt Nam. Phải chăng cụ đã thấu hiểu cái thời “Ôsin” của mình, cùng với năm tháng gồng gánh theo kháng chiến, lại có vinh dự được mời gặp Bác Hồ năm 1952. Cái ân đức của Người đã ngấm vào “Cô Khóa” suốt đời chăm chỉ làm ăn nuôi con thương chồng quý trọng tài đức. Hai cụ đã dành 500 triệu đồng trao lại cho trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Một tấm lòng hảo tâm đối với tài năng trẻ thật đáng kính trọng. Có ai thấu hiểu các sinh viên, do không đủ tiền học phải làm đủ nghề, vật lộn với cơ chế thị trường, mới quý nghĩa cả của cụ đối với lớp người sẽ là “giường cột quốc gia”. Ngay lúc đất nước khó khăn, nhà nước phát hành mua công trái, mới thấy một người dân sống giữa nơi đua tranh tìm kiếm đồng tiền, dám bỏ ra số tiền lớn góp phần nuôi dưỡng thế hệ trẻ qua cơn “bĩ cực”.
Số tiền 500 triệu đồng, đối với đất nước không lớn, nhưng tấm lòng nhân nghĩa của một con người sống giữa đô thành làm việc đó thì không nhiều, càng có ý nghĩa lớn lao đối với các em họ csinh bươn trải giữa dòng đời, tìm nhặt “hạt vàng” trên sa mạc, mong có được hạtnước nhấp môi, đã quý lắm rồi. Mỗi em nghĩ gì khi nhận được đồng tiền học bổng từ người bà, đã một thời đi ở, làm thuê, chắt bóp tạo dựng cơ nghiệp, nuôi con thành đạt, giờ đây lại hướng về sự nghiệp cao cả trồng người của dân tộc. Cầm đồng tiền học bổng nhỏ bé, nhưng biết đâu chẳng giúp các em: “đổi đời” khi có nghị lực,, có tâm trí rửa cái nghèo cho đất nước, bằng sự trợ giúp của những tấm lòng khuyến học, bởi “những tài năng chớm nở hôm nay phải được nuôi dưỡng bằng bầu sữa của dân tộc”.
Trong chiến tranh có nhiều mẹ đã hy sinh cả hàng chục đứa con cho sự trường tồn của dân tộc, như mẹ Thứ ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã được nhà nước phong tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nay mẹ Phan Thị Khóa đã giành một phần gia tài của mình đóng góp vào quỹ hỗ trợ phát triển tài năng. Nghĩa cả của hai bà mẹ được cả xã hội tôn vinh tiêu biểu cho các bà mẹ Việt Nam tôn kính.
Tháng 7 /1999
Phó nháy nghiệp dư
“Phó nháy” có ảnh đẹp nhất tháng qua
Trong tháng 7/1999, báo tuần Du Lịch đã giới thiệu ảnh của các “phó nháy”: Anh Duyệt, Lê Tuấn Khanh, trên các số báo 27, 28, 29, 30. Theo “lệ làng” Ban Biên tập báo đã chọn và quyết định trao giải cho tác giả Anh Duyệt – 68 Hùng Vương – Huế với tác phẩm: thơ và ảnh chụp tại công viên Tứ Tượng, TP. Huế ngày 18-6-1999, đăng trên báo Tuần Du Lịch số 27.
Nhắn tin: Một năm học mới sắp đến, Tuần Du Lịch mong nhận được nhiều tác phẩm của các “phó nháy” về chủ đề này. Ưu tiên cho tác giả có ảnh gửi đến sớm.
PV – Tuần Du lịch – 1999

Du lịch Sa Pa có còn thu hút khách

Anh Lê Thanh Hùng phụ trách văn phòng du lịch Tre Xanh ở thị trấn Sa Pa nói với tôi, giọng đượm buồn: “Không một ai biết đến Sa Pa mà không nghĩ đến chợ tỉnh. Chợ tỉnh Sa Pa nơi giao lưu hàng hóa, văn hóa của trai gái người Dao, H’Mông, Tày, Nùng. Nhưng không biết có còn giữ được không? Tôi sợ, tới đây nó sẽ… tan mất”
Sao lại tan? – Tôi hỏi
Bây giờ, ngay đến nghe hát, Tây cũng phải dúi tiền “đô” cho người dân tộc, họ mới hát, nếu không thì có chờ đến 2h sáng họa chăng mới nghe tiếng sáo Mèo, và tiếng hát của các cô gái H’Mông rời rạc, rồi tắt lịm.
Tôi đã chờ ở chợ tỉnh Sa Pa đến 2h sáng để được nghe tiếng khèn, tiếng hát của trai gái địa phương mà không được. Còn dịch vụ may áo thổ cẩm, đo người, chọn hoa văn chỉ sau 2-3h đồng hồ là được lấy áo mặc.
Giá áo thổ cẩm ở các cửa hàng thị trấn Sa Pa “trông mặt đặt giá”. Nếu là khách nước ngoài, chiếc áo sẽ 10USD hoặc hơn, nếu là khách VN chỉ 55.000đ. Các loại túi thổ cẩm cho học sinh đi học 10.000đ/c bán đầy phố Cầu Mây. Ví, túi đựng viza bằng thổ cẩm giá chỉ 6000đ – 10.000đ/c. Các loại bưu ảnh, in đẹp giới thiệu phong cảnh VN, làm muối ở Nha Trang, gùi ngô ở Sa Pa, hội Gióng ở Hà Nội, giá 3000đ/c. Rất nhiều các loại vòng bạc, nhẫn, kèn Mèo, bông tai đều bị nói thách rất cao:
Một chiếc mũ, em bé người H’Mong đòi 15.000đ, rồi hạ xuống 8000đ, 6000đ, thấy khách không mua còn hạ nữa.
Chợ Sa Pa vào sáng sớm chủ nhật đầy nấm linh chi, giá 250.000đ – 300.000đ/kg, nấm hương 120.000đ/kg và măng tươi 1.000đ/bó. Đặc sản Sa Pa chỉ nấm là nổi trội, nhưng khách du lịch đông nên giá nấm cao hơn và có vẻ khan hơn.
Các mon ăn đặc sản ở Sa Pa thì chỉ có rau cải xoong, su su luộc và măng luộc. Còn thịt nai rừng thì chị chủ nhà may thổ cẩm tiết lộ với tôi: “Toàn thịt dê ướp lạnh đem từ Hà Nội lên bán với giá 20.000đ/dĩa, rồi phán “thịt nai rừng”. Đào đâu ra thịt nai nếu cứ 1 tháng Sa Pa đón từ 400 đến 700 khách du lịch”. Các món ăn ở Sa Pa đã đắt lại không ngon, bù lại đang mùa lê, đào, mận hậu chỉ 2000đ/kg, và ngô nướng cứ 1000đ/bắp. Khách du lịch ăn sáng, ăn tối bằng ngô nướng và dịch vụ bán ngô nướng, các bếp than chạy suốt phố Cầu Mây.
Vào những ngày đầu tuần thứ 2 – thứ 5, Sa Pa vắng khách. Hễ thấy các đoàn xe lên là đám “cò” chạy xô ra xe “dí” các-vi-dít vào mặt khách, tranh nhau mời khách về nhà trọ; làm cho nhiều du khách “sợ hãi” ngồi im trong xe không dám ra.
Trừ những hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp ở Hà Nội theo tour đưa đoàn lên, còn hầu hết khách du lịch tự do lên Sa Pa đều gặp cảnh hướng dẫn viên du lịch gia đình, tiếng Việt nói ngọng, nói sai, nghe lủng củng thế mà nói tiếng Anh cũng khá liến thoắng, còn hiểu biết về Sa Pa thì không có bao nhiêu. Điều này cũng làm cho không ít khác hnước ngoài phiền lòng.
Hiện nay văn phòng du lịch Tre Xanh đã có bản đồ tiếp thị cho du khách đi các vùng Bắc Hà (12USD/người), du lịch bản Tà Phèn (20USD/ người, nhung đi 2 người chỉ mất 11USD/người), du lịch bản Cát Cát (15USD/người, nếu đi 2 người giá chỉ còn 9USD/người, 3 người giá 6USD/người)…
Cũng giống như chợ tỉnh Sa Pa, ở bản Cát Cát, khách du lịch đến nhà cứ phải đưa tiền cho chủ nhà 10.000đ nếu như muốn chụp ảnh với họ.
Giá vé du lịch leo núi Hàm Rồng tăng từ 3000đ lên 7000đ/người, trẻ em 3000đ/vé.
Giá vé du lịch leo núi Hàm Rồng tăng từ 3000đ lên 7000đ/người, trẻ em 3000đ/vé.
Giá vé đi vào khu du lịch Cầu Mây 5000đ/người, trẻ em 3000đ cũng tăng 2000đ/vé.
Đến du lịch ở Sa Pa, nghe hát, đến bản Cát Cát, Cầu Mây, lên đỉnh cổng trời, nơi nào cũng thấy thu tiền, và giá vé cứ tăng gần gấp 2 lần.
Cứ đà này, liệu du lịch Sa Pa có còn thu hút khách, nếu chính quyền địa phương và ngành du lịch không nhanh chóng chấm dứt tình trạng này?.
Hoàng Việt Hằng -Tuần Du lịch – 1999