Khai thác thị trường du lịch

Xứ Lạng, có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng, có nhiều hang động kỳ thú và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc…, cho phép tỉnh có thể khai thác phát triển đa dạng các loại hình du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan vãn cảnh, du lịch leo núi, du lịch hang động, du lịch thương mại và quá cảnh… trở thành trung tâm hấp dẫn của vùng Đông Bắc Việt Nam.
Ngoài tiềm năng du lịch, địa phương còn liền kề với thị trường du lịch rộng lớn đó ở Trung Quốc. Do đó, những năm qua, khách quốc tế đến Lạng Sơn chủ yếu là khách du lịch Trung Quốc. Đặc biệt từ khi quyết định 229 của tổng cục du lịch Trung Quốc vào tham quan một số tỉnh thành của Việt Nam bằng thẻ du lịch, thì du lịch Lạng Sơn càng có cơ hội để vươn lên. Lượng khách và doanh thu du lịch của Lạng Sơn tăng trưởng đáng kể: Năm 1995 đón được 95.000 lượt khách, doanh thu đạt 45,5 tỷ đồng, năm 2000 đón 180.000 lượt khách (trong đó khách quốc tế 60.000 lượt), doanh thu đạt 74 tỷ đồng. Quý I năm 2001 Lạng Sơn đã đón 57.600 lượt khách trong đó khách quốc tế đạt 22.000 lượt, doanh thu đạt 29,5 tỷ đồng tăng 148,8% so với cùng kỳ năm 2000 và đạt 34,7% kế hoạch năm 2001.
Thị trường khách du lịch Trung Quốc có nhiều thuận lợi như sự gần gũi về địa lý, văn hóa, phong tục tập quán nên khai thác tốt nguồn khách du lịch từ đất nước đông dân nhất thế giới này, du lịch Lạng Sơn sẽ có cơ hội cất cánh vươn lên. Xứ Lạng đã trở thành xứ sở thương mại , du lịch là điểm hẹn của các tầng lớp trong nước và ngoài nước. Khi đến Lạng Sơn, hầu hết khách du lịch đến Lạng Sơn, hầu hết du khách Trung Quốc đều muốn nối tour đi tham quan những địa danh nổi tiếng của Việt Nam như: Hà Nội – Hải Phòng và đặc biệt là Vịnh Hạ Long – kỳ quan của thế giới. Du lịch Lạng Sơn hoàn toàn đáp ứng được nguyện vọng đó nên đã tạo ra một luồng sinh khí mới để thu hút khách du lịch Trung Quốc.
Nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc ngày càng phồn thịnh cùng với chính sách mở cửa nên nhu cầu đi du lịch của công dân hai nước ngày một tăng. Có thể nói đây là cơ hội tốt để du lịch Lạng Sơn có bước tiến mới cả về lượng và chất ngay từ nhưng năm đầu của thế kỷ 21.
Cùng với việc khai thác các nguồn du lịch thì hiện nay, du lịch Lạng Sơn đang tranh thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp trên để phối hợp với các ngành chức năng trên địa bàn triển khai thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lịch, Nghị quyết của ban thường vụ tỉnh ủy về nhiệm vụ phát triển du lịch đến năm 2010; Chương trình hành động phát triển du lịch của Ủy ban nhân dân tỉnh đến năm 2005, từng bước biến các nội dung của nghị quyết và chương trình hành động đó đi vào cuộc sống và phục vụ khách du lịch. Ngành du lịch Lạng Sơn đang tập trung xây các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch Mẫu Sơn, Khu du lịch Nhị Tam Thanh: Thành Nhà Mạc, tôn tạo nâng cấp danh thắng Mai Sao Phong Động… tạo ra các khu, điểm tham quan du lịch mới hấp dẫn hơn, chú trọng khai thác phát triển các sản phẩm mang đặc thù Lạng Sơn, tăng cường công tác tiếp thị quảng cáo, tích cực đào tạo và đào tạo lại đội ngũ Cán bộ công nhân viên.
Bước vào thiên niên kỷ mới với nhiều thời cơ mới, du lịch Lạng Sơn mong muốn đón nhận được sự quan tâm chỉ đạo nhiều hơn nữa của Chính Phủ, tổng cục du lịch, các bộ, ngành trung ương và địa phương. Đồng thời, được hợp tác chặt chẽ với các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để đầu tư, khai thác các dự án phát triển du lịch Lạng Sơn , phối hợp với các doanh nghiệp du lịch các tỉnh, thành trong cả nước nối tour, tuyến du lịch từ các địa phương khác đến Lạng Sơn và đi tham quan du lịch Trung Quốc. Đồng thời, khai thác và nối tour đón, đưa du khách du lịch Trung Quốc đi tham quan du lịch tại các địa phương.
Lương Đăng Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Cung văn hóa lao động hữu nghị Việt – Xô

Bông hoa giữa lòng thành phố
Ngày 1/5/1938, tại khu Đấu Xảo, Hà Nội đã diễn ra cuộc mít tinh của gần 3 vạn công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Đây là cuộc biểu dương sức mạnh lớn nhất nhân ngày Quốc tế Lao động, do giai cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức.
Năm 1985, cũng tại nơi này, một công trình kiến trúc văn hóa đồ sộ mang tên “Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt – Xô” đã được khánh thành và đi vào hoạt động. Công trình là quà tặng của Hội đồng Trung ương các công đoàn Liên Xô (cũ) cho giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam. 15 năm qua, kể từ ngày thành lập, Cán bộ công nhân viên Cung đã không ngừng phấn đấu vươn lên, phát huy truyền thống tốt đẹp vốn có, vượt qua mọi thử thách để xứng đáng là nơi thắp sáng ngọn lửa tinh thần cho người lao động và nhân dân trong cả nước. Là một đơn vị sự nghiệp văn hóa phải tự hạch toán, lại hoạt động trước bối cảnh phần lớn các Nhà văn hóa trên toàn quốc đều nằm trong tình trạng vắng khách, nhưng kết quả mà đơn vị đạt được vẫn rất đáng tự hào. Năm 2000, Cung đã tổ chức thành công 18 cuộc giao lưu, 33 cuộc biểu diễn nghệ thuật, duy trì hoạt động 26 CLB sở thích. Tổng thu từ các hoạt động dịch vụ kinh tế, phục vụ biểu diễn đạt 8.279.381.843 đồng. Đời sống của Cán bộ công nhân viên tương đối ổn định với mức lương thu nhập bình quân 700 đến 800 nghìn đồng/người/tháng. Bí quyết nào đã giúp Cung Văn hóa Lao động Hà Nội Việt Xô làm được điều đó?
Từ năm 1990, Cung Văn hóa từng đứng trước một khó khăn lớn: đơn vị hoạt động không còn được “bao cấp” như trước, ảnh hưởng của thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế đã kéo theo sự giảm sút đáng kể của các hoạt động tổ chức biểu diễn. Thêm vào đó, sau một thời gian hoạt động, cơ sở vật chất trong Cung bắt đầu xuống cấp. Lúc này, một câu hỏi đặt ra cho lãnh đạo Cung là làm thế nào để có kinh phí, vừa trả lương cho Cán bộ công nhân viên vừa có thể duy trì và phát triển các hoạt động, làm tròn nhiệm vụ được giao? Khó khăn không ngăn được lòng người. Trước tình hình trên, Ban Giám đốc Cung Văn hóa đã hoạch định ngay cho đơn vị mình một cách làm mang tính chiến lược với phương châm “văn hóa gắn với kinh tế”. Từ đó mạnh dạn tận dụng ưu thế mặt bằng vốn có với diện tích 3,2ha, sắp xếp các điểm hợp lý để khai thác các hoạt động dịch vụ văn hóa, hội nghị, hội thảo, triển lãm, hội chợ… để tăng nguồn thu. Nhận thức rõ vai trò công tác tiếp thị đối với hoạt động kinh doanh, Cung văn hóa đã không ngừng tăng cường tuyên truyền, quảng bá, duy trì mối quan hệ với các đối tác, tạo tiền đề cho sự phát triển của Cung. Chính sự tăng trưởng kinh tế từ việc khai thác các hoạt động dịch vụ đã có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm ổn định cho 193 người lao động trong Cung, cũng như tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ nhu cầu người lao động được duy trì và phát triển.
Không dừng lại ở đó, với phương châm đặt ra trong giai đoạn mới là “xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật”, Ban Giám đốc Cung đã mạnh dạn “dám nghĩ, dám làm” tổ chức có hiệu quả nhiều cuộc thi người đẹp, các buổi biểu diễn nghệ thuật cùng nhiều cuộc triển lãm hội họa, nhiếp ảnh, tranh thiếu nhi, hàng năm thu hút từ 3 đến 3,5 triệu lượt người.
Những năm qua, ngoài số lượt khách kể trên, Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô còn là địa điểm thường xuyên diễn ra các cuộc hội nghị, hội thảo lớn, các hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước cũng như các cuộc gặp gỡ quốc tế. Trong suốt 15 năm hoạt động Cung văn hóa đã phục vụ đầy đủ, an toàn, tuyệt đối có chất lượng hàng nghìn cuộc hội nghị lớn, nhỏ, những ngày kỷ niệm lớn của Đảng, Nhà nước. Những kết quả đạt được đã khẳng định uy tín mà Cung văn hóa đã tạo dựng được trong những năm qua. Đầu năm 2001, Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô đã vinh dự được chọn là nơi tổ chức cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống V.Pultin – Tổng thống Nga đầu tiên với các học sinh, sinh viên đã từng học ở Liên Xô (cũ). Không phụ lòng tin của mọi người, toàn thể Cán bộ công nhân viên Cung đã phục vụ thành công cuộc gặp mặt này.
Chính tinh thần đoàn kết nội bộ và hướng đi đúng đắn, linh hoạt đã là sức mạnh giúp Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô đạt kết quả cao trong hoạt động và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong 15 năm qua, Cung Văn hóa đã tổ chức duy trì thường xuyên hoạt động 30 loại hình câu lạc bộ, tổ chức được 12.435 buổi sinh hoạt cho 596.903 lượt người. Mở 1.359 đầu lớp học năng khiếu nghệ thuật và các lớp nghiệp vụ thu hút 1.778.268 lượt người học. Từ kết quả đạt được Cung văn hóa đã được các cấp, các ngành tặng nhiều bằng khen, tặng cờ và nhiều phần thưởng khác. Nhân kỷ niệm 10 năm khánh thành đưa Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô vào hoạt động. Cung đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.
Mười lăm năm, thời gian chưa phải là dài nhưng cũng đủ để khẳng định bước đi, mô hình hoạt động của một đơn vị sự nghiệp có thu mà 10 năm trở lại đây đã hoàn toàn không được bù cấp. Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt Xô thực sự là một bông hoa đẹp giữa lòng thành phố.
Hồng Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Quảng bá phiên chợ trong sương đêm

Khi cảnh vật còn tĩnh mịch và mọi người đang ngon giấc trong chăn ấm thì cũng là lúc cảnh chợ Quảng Bá diễn ra tấp nập nhất. Phải chăng sương đêm chính là yếu tố đặc biệt tạo nên tính đặc thù cho phiên chợ hoa này?
Mới 2 – 3 giờ sáng, trên con đường Nhật Tân đã thấy những chiếc xe thồ chồng chất các bó hoa hướng về phía chợ. Chủ nhân của những chiếc xe này là đàn ông, những thanh niên hay trung tuổi thì chưa rõ, bởi sương bao phủ dày đặc. Mưa bụi lắc rắc khiến cho cái lạnh càng thấm vào da thịt. Hai bên bờ đê Yên Phụ, các dãy xe máy, xe đạp chật ních, chủ yếu là khách từ các tỉnh, thành Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Thái Nguyên, Ninh Bình…. Đổ về mua hoa. Nhất là vào dịp lễ, tết, khách buôn hoa càng đông hơn. Nhìn từ xa, quang cảnh chợ thật nhộn nhịp, trải dài theo những cột điện. Qua ánh sáng lấp lánh chẳng tài nào đoán nổi hoa gì, phải cuối sát mặt xuống mới trông rõ hơn. Mặ dù tiết trời còn đang độ rét, gió mùa Đông Bắc đang tràn về nhưng những người bán hoa đã ngồi sẵn ở chợ từ bao giờ, giọng nói của họ vẫn còn ngái ngủ. Họ đã có mặt từ 1 giờ đêm, để chọn được chỗ bày bán dễ mua dễ bán. Càng đi vào trong chợ, càng thấy không gian thu hẹp bởi những dãy hoa bạt ngàn chủng loại: hồng, cúc, Salem, hoa công chúa, hoa lao kèn… Những nụ hoa vừa hái cũng còn đương e ấp trong làng sương sớm. Những người buôn hoa dày dạn kinh nghiệm, nhanh tay soi đèn pin, lật từng bó hoa, luôn miệng mặc cả. Mọi người tấp nập qua lại, trên vai vác những bó hoa to, vội vàng ra xe. Có nhiều chị tất bật chọn hoa xong, lại hối hả chạy ra cổng gọi xe vào chở. Trong không gian sôi động đó, vẫn còn anh chàng bán hoa tranh thủ khi vắng khách gà gật trên chiếc xe thồ. Giấc ngủ vừa ào đến đã vội vàng biến mất khi có người hỏi mua. Mọi hoạt động diễn ra thật ồn ào, náo nhiệt, thậm chí còn nhộn nhịp hơn cả ban ngày. Ai cũng vội vàng bán, vội vàng mua, ánh sáng hắt lên khuôn mặt họ còn ẩm ướt vì mưa bụi.
Mặc dù phải dậy thật sớm, phải cưỡng lại giấc ngủ say nhưng những người lao động này không quản ngại khó khăn, vất vả. Một người bán hoa nói với tôi: “Nghiệp sống đấy em ạ!”. Quả là nghiệp sống, song nét đặc trưng của nghề này chỉ được nổi bật và thật sống trong một phiên chợ khuya. Khi mọi người bắt đầu nhận rõ mặt nhau cũng là lúc chơ đã vãn. Sáng ra, những gánh hàng hoa tươi xinh bên đường, ở các của hàng và ở khắp mọi nẻo đường như đang mời chào, vẫn gọi khách qua đường. Trong số những người mua hoa, có ai hay hành trình của hoa hay chính hành trình vất vả của bao người quanh ta? Ngày mai, hiện chợ hoa Quảng bá lại bắt đầu
Bức tranh sơn dầu dài nhất thế giới.
Họa sĩ Huang Long ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc vừa hoàn thành bức tranh sơn dầu 250m, được đánh là bức tranh sơn dầu dài nhất thế giới cho đến nay.
Bức tranh mô tả hơn 1.000 cảnh đẹp dọc theo con đường tơ lụa ngày xưa như khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Tan An, khu hang động Dunhuang, các đoàn lữ khách thương mại trên con đường tơ lụa…Bức tranh cũng có hơn 20 chân dung những con người nổi tiếng, kể cả như những huyền thoại Bà Nữ Oa đội đá vá trời, Fuxi người đầu tiên trên thế giới sử dụng lưới để bắt thú rừng và đánh cá.
Sau khi tiến hành chuyến đi kéo dài 6 tháng trên con đường tơ lụa, họa sĩ Huang Long đã bỏ ra hơn 1 năm để hoàn thành bức tranh có một không hai này.
Trước đó, Huang Long đã vẽ bức tranh sơn dầu dài 150 mét và ngay sau đó đã được đưa vào sách kỷ lục Guinness.
Lương khách du lịch vào Hà Nội 3 tháng đầu năm tăng.
Quý I năm 2001, lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội ước đath 150.000 lượt, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhiều nhất là khách Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Australia. Đặc biệt thị trường khách Đông Nam Á tăng rất mạnh như Đài Loan tăng 35/7% Hàn Quốc 92,4/5; Thái La 59,5%. Khách du lịch nội địa cũng đạt 600.000 lượt, tăng 60% so với cùng kỳ năm trước
Nhờ vây, doanh thu từ du lịch đạt 450 tỷ đồng tăng 16,9% so với quý 1 năm 2000.
Hoàng Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Để tuyên truyền quảng bá du lịch có hiệu quả – Phần 2

Có như vậy công tác tuyên truyền quảng bá mới có thể duy trì một cách ổn định và phát triển lâu dài, từng bước tiếp cận với các quốc gia trong khu vực, chúng ta không chỉ trông cậy vào sự nỗ lực của một vài đơn vị có thể đảm trách được mảng công việc to lớn như vậy khi không có nguồn kinh phí tương xứng dành cho nó. Nhìn sang các nước bè bạn, chúng tôi thấy số lượng khách du lịch đến với họ hàng năm hơn hẳn chúng ta, thậm chí gấp nhiều lần. Nhưng để đón được số khách như vậy, Nhà nước của họ đã dành khoản kinh phí rất lớn cho công tác tuyên truyền quảng bá, ví dụ trong hai năm 1998 – 1999, Thái Lan đã dành 300 triệu USD cho Chương trình “Kỳ diệu Thái Lan” (Amazing Thailan), mà phần chính chủ yếu là khâu tuyên truyền quảng bá; Lào chi cho tuyên truyền quảng bá năm 1999 “Visit Lao” với kinh phí khoảng 2 triệu USD…
Nhìn lại hai năm ngành Du lịch triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch đã chi khoảng hơn 10 tỷ đồng (hai năm 1999 – 2000 chưa giải ngân xong khoản dự toán ban đầu). Đổi lại, ngành Du lịch đã đạt số lượng khách quốc tế vào Việt Nam tăng lên đáng kể. Nếu tính bình quân chi phí của một khách ngoại quốc tại Việt Nam là 500 USD/người (không kể cước vé máy bay) thì chúng ta đã thu về cho đất nước khoảng 26 tỷ VNĐ. Tương tự, cũng năm 2000, khách du lịch nội địa tăng 600.000 lượt người, tính trung bình một khách du lịch trong nước chi phí khoảng 250.000đ/người thì doanh thu từ nguồn này đã có 150 tỷ VNĐ, quả là những con số rất ấn tượng.
Thứ ba, công tác tuyên truyền quảng bá cần được tăng cường mạnh mẽ hơn nữa nhằm đáp ứng với yêu cầu mới. Trước hết đẩy mạnh khâu phát hành các ấn phẩm tuyên truyền Du lịch Việt Nam hướng tới thị trường nước ngoài, dần khắc phục tình trạng “trắng” lâu nay. Để làm được vấn đề này, bắt buộc phải có sản phẩm, nội dung, hình thức đa dạng với chất lượng cao nhằm tạo sự hấp dẫn. Một chi tiết tưởng như là rất nhỏ nhưng lại rất quan trọng, nên chăng Tổng cục Du lịch quy định cho mỗi người (hoặc đoàn) đi dự hội chợ ở nước ngoài phải mang theo số lượng tài liệu cụ thể (tính bằng kg), được cơ quan thanh toán cước phí vận chuyển (nếu không có tổ chức hay cá nhân nào tài trợ) khi đủ chứng từ hợp lệ. Đây là những cơ hội “vàng” để ngành Du lịch tiếp cận trực tiếp với các thượng đế tiềm năng của mình.
Thứ tư, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đối ngoại, đẩy mạnh khâu tuyên truyền đến những đối tượng chuẩn bị đến Việt Nam theo bất kỳ mục đích nào, bằng cách thường kỳ chuyển tài liệu quảng bá cho Bộ Ngoại giao để cung cấp cho các đại sứ quán và đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Mỗi khi người nước ngoài đến làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam đều có tài liệu phát miễn phí…
Thứ năm, quan tâm, khai thác tổng hợp thế mạnh của các công cụ báo nói, báo viết, báo hình phục vụ công tác tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam ở cả trong và ngoài nước.
Trên đây là một vài ý kiến nhìn từ góc độ cá nhân, hy vọng những ý kiến trên sẽ nhận được sự trao đổi chân thành của các anh, chị đồng nghiệp khác.
Lê Nhiệm – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Để tuyên truyền quảng bá du lịch có hiệu quả – Phần 1

Ngành Du lịch Việt Nam đang ở độ tuổi 41. Nếu so sánh với năm 1990, khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam năm 2000 tăng gấp 8,56 lần, khách du lịch nội địa gấp 11,2 lần, doanh thu tăng bình quân khoảng 40%/năm… đủ cho thấy sự phát triển, lớn mạnh của ngành.
Đạt được kết quả trên là có sự đóng góp công sức của hàng nghìn cán bộ, nhân viên ngành Du lịch phấn đấu bền bỉ trong nhiều thập kỷ qua; sự vươn lên về trình độ nghiệp vụ chuyên môn cũng như năng lực quản lý kinh doanh ở các đơn vị trong toàn ngành là kết quả đầu tư vốn của cả trong và ngoài nước… Nhưng có một nguyên nhân rất quan trọng là vai trò của công tác tuyên truyền quảng bá Du lịch Việt Nam.
Du lịch Việt Nam những năm qua đã cho ra đời nhiều loại sản phẩm tuyên truyền quảng bá về đất nước – con người Việt Nam bằng nhiều loại hình như sách, tranh, ảnh, băng video, tờ gấp, CD-ROM, Internet… với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Có thể nói, chưa bao giờ sản phẩm tuyên truyền quảng bá du lịch lại đa dạng và mạnh mẽ như lúc này, nhất là sau khi Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch đi vào hoạt động thì công tác tuyên truyền quảng bá thực sự đã tạo nên những bước đột phá rất quan trọng. Hình ảnh Du lịch Việt Nam ở trong nước và quốc tế đang được khắc họa một cách đẹp đẽ hơn, khách quan hơn, toàn diện hơn – điều trước đây chúng ta chưa làm được bao nhiêu. Dẫu có những bước tiến song sản phẩm tuyên truyền quảng bá Du lịch Việt Nam chưa đủ sức vươn xa, vươn rộng cho tương xứng với yêu cầu hiện tại, số lượng mỗi sản phẩm lại rất khiêm tốn (số lượng ấn hành ở vài sản phẩm nhiều nhất cho một ngữ thời gian qua chưa vượt quá con số 5.000 bản), nếu so sánh với yêu cầu thì quả như “muối bỏ bể”!
Những ai đã có dịp đi hội chợ nước ngoài hẳn đều biết, tài liệu tuyên truyền quảng bá du lịch của các nước dường như bão hòa. Từ chủng loại sản phẩm đến nội dung thông tin đều rất đa dạng,chi tiết. Tuyên truyền quảng bá của họ mang tính chuyên nghiệp rất cao, được thực hiện từ nhiều thập niên trước đây.
Theo chúng tôi, để công tác tuyên truyền quảng bá ở Việt Nam có hiệu quả, trước hết cần có sự thay đổi về tổ chức bằng việc sớm thành lập cơ quan quản lý công tác này, có thể là Cục Xúc tiến Du lịch (như Cục Xúc tiến Thương mại của Bộ Thương Mại). Một cơ quan chuyên trách có thẩm quyền, được bố trí những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm về về lĩnh vực này sẽ tập trung công việc về một đầu mối, tránh sự trùng chéo hoặc bỏ trống. Chúng tôi biết rằng, hiện tại chức năng quản lý Nhà nước và theo dõi thực hiện công tác tuyên truyền quảng bá của Tổng cục Du lịch được quy định trong chức năng nhiệm vụ của ba đơn vị.
Thứ hai, các cơ quan chức năng của Chính phủ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Tổng cục Du lịch) cần có quy định rõ bằng văn bản tỷ lệ kinh phí dành cho tuyên truyền quảng bá du lịch trong nguồn kinh phí của quỹ phát triển ngành hàng năm hoặc nguồn kinh phí từ ngân sách cấp.
Lê Nhiệm – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Ấn tượng hồng sơn

Trong đội hình của Thể Công và Tuyển Quốc gia, cầu thủ Nguyễn Hồng Sơn đã không ít lần ghi bàn thắng bằng những quả đánh đầu, những bàn thắng ở phút 43, anh ghi cho Thể Công trong trận tiếp đội Cảng Sài Gòn trên sân Hà Nội, ngày 22/3/2001 đã khiến cho đông đảo khán giả hết lời thán phục và không dễ quên được: lặng lẽ chọn điểm rơi, Hồng Sơn bật cao, đón đường chuyền lật cánh của đồng đội, anh “vặn mình” trên không trong tư thế song song với mặt đất, lắc đầu đưa bóng vào góc xa cầu môn Cảng Sài Gòn. Cả cầu trường vang dậy tiếng reo hò. Trước đó, bàn mở tỷ số của Việt Hoàng ở phút thứ 4 cũng mang đậm dấu ấn của Hồng Sơn, nó được bắt đầu bằng pha dốc bóng dũng mãnh qua một loạt hậu vệ Cảng Sài Gòn. Đặc biệt, pha đi bóng đảo người điệu nghệ của anh ở hiệp 2 cùng trận đấu đó đã làm “sướng” mắt chục ngàn khán giả trên sân và hàng triệu người xem truyền hình. Có người thốt lên: “xem kìa – có khác gì Ronaldo hay Rivaldo của Braxin!”…
Sẽ không ngoa ngôn nếu nói rằng, chẳng có cầu thủ nào cùng thế hệ với Hồng Sơn lại sánh được với phong độ và thành tích về mọi mặt của anh. Mặc dù đã có những khoảng thời gian dài, vì chấn thương mà Hồng Sơn phải “chầu rìa” nhìn đồng đội thi đấu chật vật, nhưng anh thường có mặt thật đúng lúc, để rồi kịp thời làm nên chuyện thần kỳ, đem lại chiến thắng cho đội nhà. Nhớ mùa giải vô địch 1999 – 2000, thiếu Hồng Sơn, đội Thể Công sớm trở nên lận đận ở tốp cuối bảng, nhưng sự trở lại của anh đã giúp cho đội trụ hạng thành công. Người hâm mộ Việt Nam không thể nào quên hình ảnh Hồng Sơn sung sướng giơ tay chào kiểu người lính, khi anh ghi bàn thắng duy nhất vào lưới đội Indonesia để dành quyền vào chung kết gặp Thái Lan tại Sea Games 20 ở Brunei…
Sau thất bại tại Tiger Cup 2000 ở Thái Lan, nhiều người cho rằng lớp cầu thủ như Hồng Sơn, Huỳnh Đức, Công Minh, Đỗ Khải… sẽ chia tay đội tuyển, khép lại một trang “vàng” trong lịch sử bóng đá nước nhà. Nhưng bản chất của người lính đã khiến Hồng Sơn lại một phen dấn thân cùng đội tuyển tới Saudi Arabia, dự vòng loại giải Vô địch bóng đá thế giới 2002. Khi đó nhiều người hoài nghi và tỏ ra ái ngại cho quyết định “mạo hiểm” tới uy tín của anh. Nhưng thực tế, với 5 bàn thắng ghi được và những gì thể hiện trên sân, một lần nữa Hồng Sơn lại tỏa sáng hơn với vai trò dẫn dắt trận đấu. Điều đáng quý là anh đã khơi lại niềm tin cho bóng đá Việt Nam. Anh thật xứng đáng với danh hiệu “Quả bóng vàng năm 2000”.
Trở lại với Giải vô địch quốc gia chuyên nghiệp, Hồng Sơn luôn khẳng định vai trò của mình qua từng trận đấu. Kết thúc 9 loạt trận đấu của lượt đi, Hồng Sơn được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất. Huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Việt Nam Silva Dido từng nhận xét: “Thể Công thắng là nhờ có Hồng Sơn trong đội hình”. Dù cầm quân chưa lâu, nhưng ông Dido thường dành cho Hồng Sơn những lời khen ngợi tốt đẹp. Mỗi trận đấu có Hồng Sơn trên sân, người xem như thấy hứng thú hơn, luôn chờ đợi ở anh những nét đẹp của bóng đá (mà chỉ có anh mới có thể làm được). Để có một cầu thủ giỏi cả về kỹ thuật và tư duy chiến thuật chắc không khó, nhưng có được mẫu cầu thủ như Hồng Sơn về tư cách phẩm chất, ý thức kỷ luật và lòng nhiệt huyết với nền bóng đá nước nhà thì không đơn giản. Sự bình tĩnh, khiêm nhường trên sân cỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng khiến cho các đối thủ của anh phải kính trọng.
Tuổi 31 của một đời cầu thủ vốn là điểm trượt dốc của phong độ, nhưng với Hồng Sơn, anh lại đang tỏa sáng với độ chín già dặn hơn trước. Điều đó đã khiến cho người hâm mộ luôn khao khát thấy anh cùng trái bóng, với những vũ điệu say đắm bao trái tim người. Và mỗi lúc như vậy, cái tên Hồng Sơn lại vang lên trên mọi khán đài.
Đông Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Phố Hoa kiều ở Yokohama

Nếu lượng khách đến giải trí ở Disneyland ở Tokyo hàng năm chỉ khoảng 16 triệu lượt người thì con số này là 18 triệu ở khu phố Hoa kiều Yokohama và nó ngày càng tăng lên. Sở dĩ có đông lượng khách đến tham quan như vậy là vì Yokohama là một thành phố thanh lịch với tình cảm nồng hậu của người dân. Đến đây, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn ngon nổi tiếng của người Trung Quốc, được mau sắm và đựơc tham những di tích văn hoá lịch sử băn hoá lâu đời mang đậm nét Trung Hoa. Và quan trọng hơn, bạn đựơc sống trong không khí “Trung Hoa” thực sự.
Ở Nhật có rất nhiều khu phố Hoa kiều nhưng có lẽ ở Yokohama là lớn nhất, tập trung khoản hơn 2000 cư dân. Nó nằm ở ngay trung tâm thành phố Yokohama, cách Tokyo 30 phút tàu điện. Toàn bộ diện tích của khu Hoa kiều khoảng 5000m2 và được bao bọc bởi 7 cái cổng lớn chạm trổ tinh vi đẹp mắt.
Phố Hoa kiều có lịch sự từ những ngày đầu tiên khi Nhật Bản mở cửa giao lưu với thế giới bên ngoài sau hơn 200 năm bế quan tảo cảng. đó cũng là thời kỳ hiện đại hoá nhanh chóng của Nhật. Nhiều người nước ngoài được phép đến định cư, trong đó có người Trung Quốc. Họ đến với hy vọng làm giàu.
Thăm thành phố của người Hoa, ăn tượng đầu tiên mà du khách bắt gặp là màu sắc rực rỡ: xanh lá cây, đỏ, vàng và những màu xanh khác trên những bản hiệu, trên tường của ngôi nhà, cửa hiệu, tiệm ăn…
Trên diện tích khoản 500m2 nhưng có tới hơn 500 cơ sở thương mại lớn nỏ, trong đó có 300 tiệm ăn và hơn 60% là do con cháu thế hệ thứ 3 của người Trung Quốc làm chủ. Điều đặc biệt là hầu hết các tiệm ăn hay các cơ sở thương mại khác người ta dung tiếng Trung Quốc để điều hành công việc. du khách có thể tách bộ và ghé vào bất cứ tiệm ăn nào tuy sở thích của mình. Một không khí ấm cúng thường có trong những tiệm ăn nhỏ và không khí trang trọng với những bữa ăn thịnh soạn ở những nhà hàng lớn. Món ăn ở đây cũng rất phong phú, đa dạng mà giá cả lại phải chăng. Giới trẻ đến đây vi bị hấp dẫn bởi món ngon như bánh bao… con người lại bị lôi cuốn bởi thức ăn, rau quả hay dụng cụ làm bếp và nhiều thứ đồ khác của người Trung Quốc.
Ngoài ăn uống và mua săm, du khách cũng có thể đi thăm những ngôi đền của Trung Quốc quanh thành phố hay đi thăm công viên Yamashita, nghĩa trangcho nước ngoài, tháp Landmark cao 296m hay cầu vịnh Yokohama và sân vận động Yokohama – nơi chuẩn bị cho những trận đấu World Cup 2002. thú vị hơn nếu đến Yokohama vào sau tết đến cuối tháng 2 âm lịch, du khách sẽ được tham gia vào những lễ hội đầu xuân theo truyền thống Trung Hoa.
Yokohama đã được nhiều người biết đến bởi những món ăn nổi tiếng và cả những truyền thống lâu đời của người Trung Hoa. Nó được coi là một thành phố thanh lịch, thành phố của sự kết hợ giữa hai nền văn hoá Trung Hoa và Nhật Bản. Trong tương lại, khi giải bón đá Thế giới được tổ chức ở đây thì nhiều du khách từ khắp nơi trên thế giới sẽ còn biết đến khu Hoa kiều ở Yokohama trên đất nước mặt trời mọc này.
Đỗ Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Khán giả Việt Nam thờ ơ với múa rối

Mấy năm gần đây, ngoài những chuyến xuất ngoại nhằm giới thiệu nghệ thuật múa rối Việt Nam tới bạn bè khắp năm châu, lịch biểu diễn của các nhà hát múa rối luôn được xếp kín với những hợp đồng phục vụ khách nước ngoài sang du lịch Việt Nam, không kể những buổi biểu diễn dành cho khách tự do cả trong và ngoài nước. Thế giới ngưỡng mộ và khâm phục những khán giả trong nước lại chẳng mặn mà gì. Mỗi buổi chỉ có khoảng hai mươi khán giả Việt Nam đến xem. Vì sao vậy? theo Nghệ sĩ ưu tú Đỗ Mùi, Phó giám đốc Nhà hát múa rối Thăng Long thì: “Khách nước ngoài đến rồi lại đi, còn khán giả trong nước thì cố định, họ tới xem một lần”. Múa rối, đặc biệt là rối nước hấp dẫn người xem ở hai chữ là “kì lạ”. Với người Việt Nam, hai chữ đó không bí ẩn, họ cần những gì mới mẻ hơn, đặc sắc hơn.
Trong khí đó, các tiết mục múa rối lại không được đổi mới thường xuyên. Nhiều năm, chương trình rối nước vẫn diễn các tích trò ca ngợi thú làm ruộng, trò vui giải trí, nêu gương anh hùng dân tộc.. dù theo nhà nghiên cứu múa rối Nguyễn Huy Hồng, kho tàng múa rối dân gian vô cùng phong phú, có đến hàng trăm tích trò có thể dàn dựng trên sân khấu chuyên nghiệp.
Mỗi năm, Nhà hát múa rối Trung ương dàn dựng được bốn tiết mục mới, đa số là các vở rối cạn. Ông Lê Gia Đức, Trưởng phòng Nghệ thuật – Tạo hìnhNhà hát múa rối Trung ương cho biết: “Do nghệ thuật chủ thể trong tiết mục múa rối là nghệ thuật sáng tạo hoạt động hình thể của con rối trong biểu diễn, nên để dàn dựng một tiíet mục mới mới phải rất dày công, đặc biệt là trong khâu tạo hình. Tuỳ thời của tiết mục mà thời gian hoàn thành trên dưới một tháng. Hơn nữa, đội ngũ viết kịch bản chuyên cho múa rối hiện nay lại rất thiếu”.
Một nguyên nhân nữa từ phía khán giả. Đất nước mở cửa, các loại hình văn hóa ồ ật tràn vào khiến chúng ta choáng ngợp trước “nền văn minh của thế giới”. Hấp dẫn, đa dạng và hiện đại, nhiều người, nhất là lớp thanh niên bị cuốn hút vào đó và “ngoảnh mặt”với các bộ môn nghệ thuật truyền thống. còn những khán giả nhí, đối tượng phục vụ chủ yếu của múa rối, lại phải gánh nặng của học hành. Thời gian nghỉ ngơi ít ỏi của chúng được dành cho việc đọc truyện tranh. Các vị phụ huynh cũng ít có thời gian đưa con em mình đi xem múa rối.
Để giải quyết vấn đề trên, các nhà hát múa rối đã và sẽ ám gì? Theo bà Đỗ Mùi: “chúng tôi đã tham gia biểu diễn tại sân khấu ngoài trời phục vụ quần chúng trong các lễ kỉ niệm lớn, diễn hàng trăm buổi phục vụ thiếu nhi trong dịp hè, giảm 50% giá vé cho các em vào các buổi sáng chủ nhật và sắp tới chúng tới chúng tôi sẽ dàn dựng một chương trình rối cạn dành cho các em dịp Quốc tế thiếu nhi 1/6”. Ông Lê Gia Đức lại mong muốn: “Chúng tôi hy vọng có thể phối hợp với Đài Truyền hình xây dựng một chương trình chuyên về rối, nhằm giới thiệu nghệ thuật mắc rối tới đông đảo khán giả. Nếu có thể, tới quý III năm nay, chúng tôi sẽ bắt tay vào làm dự án này”.
Với những gì đã và sẽ làm được, hy vọng rằng múa rối Việt Nam sẽ ngày càng thu hút được nhiều khán giả trong nước đến sân khấu rối.
Phạm Thu Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Gặp gỡ người đoạt huy chương vàng Asean

Mới tròn 20 tuổi, đang là sinh viên năm thứ 2 (khoa Bàn trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội). Phạm Thành Lê đã đoạt Huy chương vàng tại Hội thi tay nghề ASEAN lần thứ 3 tổ chức tại Thái Lan. Ngay sau khi về nước, anh đã được Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Du lịch tặng Bằng khen . Nhân dịp này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với anh.
Phóng viên: Thưa anh, tấm Huy chương vàng vừa qua phải chăng là kết quả của một quá trình học hỏi?
Phạm Thành Lê: Trước hết, có được kết quả đó là nhờ sự dạy dỗ hơn một năm nay của các thầy cô giáo trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Hà Nội. Ngoài việc học tập ở nhà trường tôi còn làm việc cho nhà hàng Thủy Tạ nên thời gian rất hạn hẹp. Nhưng chính thực tế làm việc đã giúp tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm để bổ sung cho kiến thức của mình. Trước khi tham dự Hội thi, tôi chỉ có 1 tháng luyện tập kể cả thứ bảy, chủ nhật nhưng nhờ sự nhiệt tình dạy dỗ của các chuyên gia trong và ngoài nước, tôi đã có được những kiến thức bổ ích. Do vậy, thành tích mà tôi đạt được không phải chỉ của riêng cá nhân tôi, mà còn của tất cả mọi người đã chung sức với tôi trong hội thi.
P.V: Anh có thể kể lại một ấn tượng tại Hội thi?
Phạm Thành Lê: Nghề mà tôi dự thi thì vấn đề trang phục rất quan trọng. Nhưng trong 3 ngày thi, thí sinh Việt Nam lại chỉ có duy nhất một bộ trang phục. Trong khi đó, thí sinh của các nước có rất nhiều trang phục đẹp, phù hợp với từng bài thi. Điểm trang phục được tính cho từng ngày mà đến ngày thứ ba cổ áo tôi đã được “là cháy”. Vì vậy 3 ngày thi, mỗi ngày tôi đều bị trừ 1,5 điểm trang phục. Tôi mong muốn rằng, những lần sau các thí sinh sẽ không gặp phải trường hợp như tôi nữa để có được kết quả cao hơn.
P.V: Cảm giác của anh khi nhận giải thưởng lớn này?
Phạm Thành Lê: Khi được đứng lên bục cao nhất để nhận Huy chương vàng, tôi thật sự sung sướng và xúc động. Công lao dạy dỗ của các thầy cô giáo, các chuyên gia, sự động viên cổ vũ của bạn bè đồng nghiệp và sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi có được niềm vinh dự này, đồng thời cho tôi cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các bạn trẻ ở các nước trong khu vực.
P.V: Dự định sắp tới của anh?
Phạm Thành Lê: Tôi đang tích cực học tập để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp vào tháng 9 tới và tham dự chương trình khóa học “Nghiệp vụ quản lý khách sạn” do Nhật tổ chức. Và không chỉ dừng lại ở thành tích đã đạt được, tôi tiếp tục học hỏi những kinh nghiệm thực tế để tự khẳng định mình và mong muốn sẽ góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp Du lịch của cả nước.
P.V: Xin cảm ơn anh!
Chương trình nghệ thuật chào mừng đại hội đảng
Để chào mừng Đại hội Đảng lần thứ IX, Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa – Thông tin) phối hợp với Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tổ chức tổ chức đợt biểu diễn (2 tuần trước và sau Đại hội) những tác phẩm về đề tài cách mạng, ca ngợi sự nghiệp đổi mới của đất nước. Ngoài ra, tối 21/4/2001 Cục sẽ tổ chức một chương trình nghệ thuật hoành tráng tại quảng trường Cách mạng Tháng Tám – Hà Nội. Có 1.200 diễn viên của 12 đoàn nghệ thuật Trung ương, địa phương và các ngành tham gia đêm biểu diễn.
Tàu du lịch biển super star leo đến tiên sa
Được biết từ 3/4/2001, hãng Star Cruises mỗi tuần sẽ đưa một chuyến tàu cập cảng Tiên Sa với tổng số 26 chuyến trong năm 2001. Các ngành chức năng đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp với Chi nhánh Sangontourist tổ chức đón khách chu đáo. Tuy nhiên, tình trạng chèo kéo khách vẫn còn xảy ra ở một số đường phố chính và các điểm tham quan, gây phiền hà cho khách du lịch
Dự án quy hoạch tổng thể làng nghề gốm sứ bát tràng
Vừa qua, tại Ủy ban nhân đân huyện Gia Lâm đã diễn ra cuộc họp bàn về xây dựng dự án quy hoạch tổng thể làng nghề gốm sứ Bát Tràng do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phó Hà Nội Nguyễn Thế Quang chủ trì. Đây là một trong các dự án để tiến tới chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. 6 hạng mục sẽ được ưu tiên triển khai là mạng lưới giao thông cấp thoát nước, cải tạo cơ chế quản lý và sản xuất, trùng tu và tôn tạo các di tích lịch sử, cơ sở vật chất phục vụ du lịch; quy chế quản lý hướng dẫn đầu tư xây dựng và quy chế quản lý hướng dẫn sản xuất kinh doanh.
Diệp Ngọc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Kẻ Bàng – một vùng hoang mạc đá rộng

Nói tới hoang mạc, người ta thường nghĩ tới những hoang mạc nóng bỏng ở Châu Phi, Trung Á, Ôxtrâylia… hoặc những hoang mạc lạnh lẽo ở Bắc Cực. Còn ở Việt Nam, ít ai nghĩ rằng có hoang mạc…
Nhà địa lý người Pháp Pie – Guru chuyên về địa lý của Liên Hiệp Quốc, người từng nhiều năm nghiên cứu và có những công trình về Việt Nam đã viết trong sách giáo khoa “Các xứ nhiệt đới” (NXB Đại học Pari 1969): “Tại đây, những đá voi Uralô – Pécmi chiếm một diện tích tới 5.000 – 6.000 m2, bằng diện tích một quận của nước Pháp lại hoàn toàn hoang vắng, trong khi đó lượng mưa đạt 1.500 ly trong một năm và độ cao trung bình chỉ khoảng 1.000 m.. Không có sông suối, nước đều ngấm vào lòng đất núi đá…, sự đi lại chỉ theo những con đường mòn lên xuống nối tiếp nhau qua các tảng đá và thật may máy ở một vài nơi có cây nhỏ và bám vào mà leo…
Vùng hoang mạc đó chính là Kẻ Bàng nằm ở phía tây tỉnh Quảng Bình. Vùng hoang mạc đá voi này không chỉ giới hạn ở nước ta mà còn lan sang phía tây Trường Sơn, tạo thành khối núi Hyhaxay ở Lào. Cả hai khối đứng sừng sững, tạo thành một vòng cung khổng lồ kéo dài tới sông Mêkông và làm thành vùng hoang mạc đá voi rộng lớn nhất thế giới.
ở miền Bắc nước ta có nhiều vùng núi đá voi, nhưng không có nơi nào rộng lớn và hiểm trở như vùng núi Kẻ Bàng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, để vận chuyển vũ khí từ Trung ương vào quân khu 5 vào Nam Bộ, bộ đội và dân quân phải gùi trên lưng hàng vạn tấn vũ khí, phải dùng thang dây để leo đèo, vượt qua các vách núi đá dạng đứng.
những người đã có dịp may mắn vượt qua khối núi Kể Bàng kể, trên bề mặt khối núi rộng lớn hoàn toàn không có bản làng nào vì trên đó không có nướcvà đất để trồng trọt. Chỉ có ven rìa có những bản làng thưa thớt mà đa số là người Vân Kiều. Ho canh tác trên những vùng đất đỏ phong hóa từ đá voi. Cây trồng chủ yếu ở đây là ngô, đỗ, lúa nướng, sắn…Còn chăn nuôi người dân có tập quán thồ trên lưng những con giống nhỏ: lợn, bê… nhốt chúng trong các lũng đá voi vách đá dựng đứng. Tất nhiên kgi thịt chúng phải thịt tại chỗ và gùi thịt trên lưng đem ra chợ bán.vùng búi đá voi Kẻ Bàng thực sự là một vùng hoang mạc độc đáo, không nhưng ở Việt Nam mà còn đối với thế giới nữa. Về nhận xét này Pie Guru viết: “Vùng Kẻ Bàng là một hoang mạc đá voi rộng lớn nhất trên thế giới, có nguyên nhân hình thành do địa hình mà nham thạch, một địa hình không cao lắm. Người ta cũng gặp lại kiểu địa hình nhưng đối với diện tích hẹp hơn như ở Hoa Nam (Trung Quốc), ở Gia – va, tây Miến Điện, Cu Ba…”
Mặc dầu hiểm trở, người ta vẫn xây dựng được tiến đường ô tô từ Tân Ấp lên Thà Khẹt (Lào). Đường này cố nhiều đoạn phải xuyên núi, qua những hầm ngầm dài tới 600 – 700m, nhiều đoạn chạy sát chân núi hoặc lách qua các hẻm vực kẹp giữa vách núi cao tới 800m. Tuy nhiên cũng có nhiều quãng xe chạy xa hẳn chân núi.
Địa hình Kẻ Bàng hiểm trở như vậy đã gây biết bao trở ngại cho sinh hoạt của nhân dân ta. Có tác giả cho rằng, Kẻ Bàng là ranh giới tự nhiên của các dân tộc ít người ở nước ta. Phía Bắc khối núi là các dân tộc như: Tày, Nùng, Thái, H’mông… tất cả đều có nguồn gốc từ phía Bắc (Trung Quốc) đi xuống. Còn hía Nam khối núi Kẻ Bàng là các dân tộc như: Gia rai, Êđê, Ba Na… đều có nguồn gốc từ phía tây (Ấn – Miến) sang. Do đó về phong tục tập quán, phương thức canh tác, kỹ thuật thủy lợi, các dân tộc miền Bắc và miền Nam cũng có những nét riêng biệt khác nhau. Ranh giới đó đã tồn tại từ bao đời nay và đã xóa bỏ dưới chế đọ XHCN tốt đẹp của chúng ta. Ngày nay cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã không còn phân biệt, sống hòa trộn vào nhau.
Lê Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001