Chiếc nhẫn tử thần

Ai là chủ nhân của chiếc nhẫn tử thần??? Vâng, trước mắt các bạn là ảnh một chiếc nhẫn vàng. Cũng giống như bao chiếc nhẫn vàng khác, chiếc nhẫn này được làm khá tinh tế, chứng tỏ công nghệ chế tạo ra nó đạt đến trình độ cao. Trên mặt nhẫn là viên đá Rubi nhiều tầng mà chúng ta gọi hay gọi là đá đỏ đã tăng thêm vẻ huyền bí của nhẫn. Nhẫn có trọng lượng khá nặng, đường kính vòng đeo khoảng 2cm. Sau khi chiếc nhẫn vàng xuất hiện đã có nhiều người đeo thử. Nhìn chung, những người đàn ông lực lưỡng, cao khoảng 1,67 m trở lên là đeo vừa ở ngón tay đeo nhẫn cưới của ai đó chưa kịp trao trong đám cưới của mình?
Chúng tôi muốn nói như vậy vì chiếc nhẫn này có độ tuổi già hơn bất cứ ai trong chúng ta và nó được tìm thấy trong một hoàn cảnh khá đặc biệt – vật phẩm của con tàu đắm dưới biển Cù Lao Chàm (Việt Nam).
Việc phát hiện ra con tàu đắm xuống ở khu vực Cù Lao Chàm – Hội An đã từ lâu. Song phải chờ tới năm 1997, được phép của thủ tướng Chính phủ, việc khai thác quật con tàu đắm mới được thực hiện.
Trong cuộc khai quật này, các nhà khảo cổ học đã thu được hàng trăm ngàn hiện vật mà chủ yếu là đồ sứ – một loại hàng thương phẩm quan trọng của Việt Nam thời bấy giờ. Chiếc nhẫn vàng mặt ngọc Rubi cũng được tìm thấy trong đống đồ nát này.
Sau nhiều năm khai quật, căn cứ vào các loại hình hiện vật tìm thấy trong khoang tàu, các nhà nghiên cứu cho rằng con tàu được đóng vào khoảng từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XVI. Như vậy, nếu lấy giới hạn cuối cùng là cuối XV đầu XVI thì chiếc nhẫn này cũng đã có tới 400 năm tuổi. Quả là chiếc nhẫn vàng mặt ngọc có tuổi thọ khá cao. Thật không ngờ nếu nó gọi là “chiếc nhẫn tử thần”. Vậy ai là chủ nhân xấu số của chiếc nhẫn này?
Chủ nhân của chiếc nhẫn, chủ nhân của con tàu đang là vấn đề mà các nhà khoa học nhà khảo cổ học phải vắt óc truy tìm.
Rất may lẫn trong đống đổ nát của hàng hóa, các nhà khoa học nhà khảo cổ học đã tìm thấy mảnh xương sọ và các bộ phận khác. Phải chăng đó là những dấu hiệu còn lại của các thủy thủ xấu số?
Theo giám định của Thạc sĩ Nhân học Nguyễn Lân Cường, thì những xương này được tìm thấy ở độ sâu 0.68m – 0.70m và được lấy theo từng ô khái quát.
Trong số các xương được lấy lên trong con tàu đắm có hai loại:
Xương động vật: Hiện có 2 hộp sọ còn khá nguyên vẹn. Những họp sọ này là sọ của chuột. Cạnh đó còn có một đoạn xương đốt bàn tay của động vật chưa xác định.
Xương người: Kết quả đo đạc cho thấy, hiện có 11 cá thể di cốt người. Trong đó đáng chú ý có cá thể được phát hiện trong ô số (47-48/AB) theo nhật ký của những người khai quật. Di cốt này bị đồ gốm đè lên phía trên. Di cốt còn lại gồm có hộp sọ và hàm duwois cón gần như nguyên vẹn, nhưng răng thì mất gần hết. Xương cánh tay phải còn khá nguyên, chỉ thiếu một phần của chỏm, thân xương trụ bên phải chỉ còn lại rất ít. Kết quả cho hay: di cốt này là của một người phụ nữ khoảng 18 – 19 tuổi, cao chừng 1.47m.
Liệu con gái này có phải là chủ nhân của chiếc nhẫn hay không? Chưa có câu trả lời chắc chắn! Đâu có phải chỉ có phụ nữ mới đeo nhẫn? Trong khi đó, chiếc nhẫn lịa khá lớn và nặng gần với số đo của nam giới hơn. Phải chăng chủ nhân của nó là một thủy thủ trẻ và đã trưởng thành?
Kết quả giám định số di cốt còn lại cho thấy:
Trong tổng số 12 cá thể được đo, có 4 cá thể là di cốt của những người đàn ông trưởng thành và 1 di cốt là của phụ nữ. Vậy ai trong số họ là chủ nhân của chiếc nhẫn? Và họ là người việt, người Hoa hay người của các nước trong khu vực Đông Nam Á?
Căn cứ vào phần xương thu được trong con tàu đắm, TS Nguyễn Lân Cường dự đoán:
“Dựa vào hình thái, kích thước, chỉ số của sọ và xương chi, chúng tôi cho rằng cá thể này thuộc chủng tộc Mongolord … Kết quả cho thấy sọ cổ này có khoảng cách CH2 gắn với người Thái hơn cả”. …” Tiến hành so sánh 16 đặc điểm metric cho thấy sọ nữ trên tàu đắm Cù Lao Chàm gắn với sọ nữ Thái hơn là sọ Việt”,
Dường như chiếc nhẫn mặt ngọc có công nghệ chế tạo tinh khéo kia cũng nghiêng về kết quả nghiên cứu này. Có thể người chủ xấu số của chiếc nhẫn là những người Thái. Phải chăng trong những lần buôn bán đồ sứ Việt Nam (ở thương cản Vân Đồn) qua Thái Lan, và ngược lại; tầu do chở hàng nặng và gặp bão nên bị đắm ở khu vực biển gần Cù Lao Chàm? Nhưng người này là nam hay nữ vấn đề này của lịch sử vấn đề ngỏ! Hy vọng trong tương lai chúng ta có nhiều tư liệu hơn để trả lời thật chân xác câu hỏi này1
Dẫu sao thì “chiếc nhẫn tử thần”, nằm dưới lòng biển Đông đã được tìm thấy, như một dấu ấn cho những mối quan hệ giao thương buôn bán của Việt Nam với thế giới Đông Nam Á ngày xưa.
Nguyễn Mạnh Cường – Mai Thúc Lân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Số đỏ – số đen

Hôm đó là sáng mồng một Tết. Mặc bộ đồ vía, chải lại mái tóc xong, ông mở cửa bước ra đường. Nhưng vừa đi được mấy bước ông vội quay trở lại. Vợ ông ngạc nhiên:
Sao thế ông?
Quỷ, cái đồng hồ treo tường nó đứng, tưởng đã 6 giờ, ai ngờ mới 5 rưỡi. Đợi chiếc đồng hồ đeo tay chỉ đúng 6 giờ ông mới chịu mở cửa ra đi tiếp. Lần này có lâu hơn, nhưng cũng chỉ dăm phút, ông lại vác khuôn mặt âu sầu về lại. Vợ ông càng ngạc nhiên:
Sao nữa ông?
Quỷ, gặp ngay một con mẹ đàn bà.
Ai thế?
Chả biết! Hình như mụ ta cảm thấy ân hận nên cứ cúi mặt mà đi. Thì đã làm sao nào? Vợ ông vẫn chưa hiểu.
Đây, ông vừa nói vừa rút trong túi ra một mảnh giấy nhỏ ghi vắn tắt máy dòng mà Thầy đã tận tình căn dặn vào dịp cuối tháng Chạp: ‘Xuất hành lúc 6 giờ. Đi theo hướng Nam. Tránh gặp Đàn bà. Nếu được cả ba điều ấy thì năm nay vận đỏ sẽ đến”. Đó, bà thấy chưa! Ông nói tiếp. Thế thì coi như năm nay số tôi đen như cục than hầm. Phút xuất hành đầu năm không toại nguyện, ông quyết định lên giường trùm chăn ngủ… xả xui. Vợ ông đến nỉ non:
Ông mừng rỡ:
Ờ có lý. Biết đâu số bà đỏ, còn gỡ gạc được cho tôi. Cứ đi. Bà vợ bận đồ thơm tho bước ra cửa. Mỗi tiếng guốc bà giậm xuống đất là mỗi tiếng tim ông đập trong lòng vì hồi hộp. Chợt bà về, hớt hải nói tiếng được tiếng mất:
Trời ơi! Ghê quá!
Ông lo lắng:
Sao? Bà cũng gặp… đàn bà nữa à?
Không, tai nạn, ở đằng kia… tôi sợ quá nên chạy về kêu ông lại xem.
Nghe tin tai nạn ông quên hết tất cả bực bội, chạy vụt về phía có đông người để xem thực hư ra sao. Vất vả một lúc, ông cũng chen được vào trong. Người đàn bà băng qua đường bị một chiếc xe máy cán vào chân đang nằm úp mặt rên rỉ vì đau đớn. Ông nhẹ nhàng đến nâng khuôn mặt nạn nhận lên mà chẳng ngờ đó là một người quen.
Trời đất, chị tư, ông kêu thất thanh. Đầu năm ra đường gặp ai mà xui thế?
Trong hơi thở yếu ớt, nạn nhân thều thào:
Sáng nay tôi vừa mới gặp ông chứ ai!
Bungari: Ngày tết người Bungari ăn bánh mì đen chấm muối truyền thống. Đặc biệt họ không bao giờ để thiếu bánh mì đen trong không khí đón Tết. Bánh to tròn như một cỗ xôi để chấm muối mà không kém thức gì khác. Họ tin rằng bánh mì đen và muối là hai thức ăn chính để nuôi sống con người. Vì vậy ngày tết, ai cũng ăn cho thật nhiều để cầu may. Ngoài ra còn có bánh ngọt làm bằng bột lúa mì có nhân đường bỏ thịt. Người ta khéo léo cánh hoa hồng đẹp tượng trưng cho tình yêu và hạnh phúc. Đêm giao thừa mọi người đặt bánh lên vị trí trang trọng nhất rồi quây quần vui vẻ bên nhau chờ đợi giây phút liên hoan.
Hungari: Trong bữa ăn đầu năm của người Hungari, nhất thiết phải có món súp cá chép và thịt thỏ hoặc hươu cao cổ. Họ cho rằng ăn canh cá mọi buồn phiền sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước, còn thịt thỏ, thịt hươu sẽ tăng cường thêm sinh lực. Dịp tết họ kiêng ăn thịt gà, thịt vịt hay ngan ngỗng cùng các loại chim khác vì sợ chúng mang hạnh phúc của mình bay đi mất.
Cuba: Đêm giao thừa người Cuba có tục mỗi người ăn 12 trái nho hoặc cứ 12 người uống chung một cốc rượu nho theo nhịp chuông đồng hồ.
Nhật Đoàn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Kích cầu cho du lịch bằng cách nào?

Giống như nhiều ngành kinh tế khác, trong ngành Du lịch bài toán cung – cầu cũng đang có những thách thức gay gắt đặt ra, mà biểu hiện rõ nhất là tình trạng giảm giá thuê phòng cũng như hệ số sử dụng phòng khách sạn ở mức rất thấp. Ngành Du lịch có thể kích cầu, tức tạo ra lực hút khách du lịch đến và ở lại Việt Nam lâu hơn bằng cách nào ? Có một ý kiến đáng chú ý khi ông Richard Kaldor, Tổng giám đốc khách sạn Sofitel Metropole Hanoi, một doanh nhân nước ngoài nhiều năm hoạt động kinh doanh ở Việt Nam đưa ra tại một cuộc hội thảo mới đây. Việc kích cầu cần bắt đầu bằng một chiến dịch tuyên truyền quảng bá mạnh mẽ. Với một số kế hoạch quảng bá du lịch rộng rãi sẽ làm hình thành trong lòng mỗi du khách nước ngoài lòng mong muốn đi du lịch tới Việt Nam.
Tuy nhiên, vẫn theo ông Richard Kaldor, kế hoạch quảng bá du lịch mới chỉ là một bước đi có tính chất ngắn hạn và trung hạn. Đã đến lúc cần có một kế hoạch lâu dài để hình thành các chủ trương cần thiết một khi việc nghiên cứu chi tiết về tiềm năng du lịch được hoàn tất. Công trình nghiên cứu này phải chỉ ra các di tích, hoạt động văn hóa, các điểm tham quan du lịch giàu tiềm năng và bảo đảm chúng phải được gìn giữ, có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của ngành Du lịch. Kế hoạch dài hạn này cần phải đề cập đến các vấn đề giao thông đi lại và môi trường cũng như các đề xuất, kiến nghị lên Chính phủ về việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.
Đề xuất của chuyên gia du lịch này gợi ra điều gì?
Đề án “phát triển du lịch trong tình hình mới” đã được Bộ Chính trị thông qua; Pháp lệnh du lịch đã được ban hành và có hiệu lực; Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện Du lịch năm 2000 đang được cụ thể hóa từng bước trong cuộc sống. Nếu đối chiếu với nội dung các đề án và Chương trình này, ý kiến của ông Richard Kaldor xem ra không mới. Bởi lẽ chỉ riêng Chương trình 1 – quảng bá, tuyên truyền về du lịch Việt Nam, nếu triển khai thấu đáo, chắc chắn xứng là một kế hoạch kích cầu ngắn hạn và trung hạn. Các nội dung của Đề án “phát triển du lịch trong tình hình mới” cũng như các Chương trình 3,4,5 và 6 đều là những vấn đề cần làm của một kế hoạch lâu dài. Nói cách khác, lời giải cho bài toán kích cầu chính là việc triển khai nhanh và hiệu quả những chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000. Bởi thế, hơn lúc nào hết đó là việc “cần làm ngay” của các ngành, các địa phương để thúc đẩy Du lịch phát triển.
Thủ đô Hà Nội đã có biểu trưng chính thức
Ngày 23/7/1999, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, biểu trưng chính thức của Thủ đô Hà Nội đã được công bố. Đây cũng chính là mẫu bài thi xuất sắc nhất của tác giả Phạm Ngọc Tuấn, 70 tuổi, sống tại Pháp. Mẫu biểu trưng Hà Nội đã đạt các yêu cầu cơ bản về tính truyền thống, hiện đại, dễ nhận biết và có thể thể hiện trên nhiều chất liệu.
B.H.T – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Sáng tác là để gửi gắm cái riêng

Trong vòng 3 năm trở lại đây, anh đã sáng tác trên 50 ca khúc gồm các chủ đề về quê hương, về cuộc sống, về mẹ, về tình yêu lứa đôi… Trong chuỗi sáng tác đó, người yêu nhạc biết nhiều đến các ca khúc: “Quán xưa”, “Mừng sinh nhật mẹ”, “Bụi hồng chiều xuân”, “giấc mơ trong đời”, “Cô giáo dương cầm”, “Xin trả lại em”… Bài “Mừng sinh nhật mẹ” của Nguyễn Khải Hoàn với lời lẽ trong sáng, rất thật, mộc mạc, nồng nàn tình cảm như: “Nắng, mưa sớm chiều, những khi trái gió trở tròi đều có mẹ đùm bọc che trở cho con. Tình mẹ như biển rộng bao la. Đời mẹ hy sinh tất cả cho con. Ca khúc về Mẹ đầy ấn tượng này, đã được quần chúng sử dụng rộng rãi, nhất là trong các buổi lễ sinh nhật, lễ mừng thọ… Đài truyền hình Bình Dương sử dụng làm nhạc nền cho các chương trình về Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Quê ở Gò Công Tây – Tiền Giang, lớn lên ở Sài Gòn, Nguyễn Khai Hoàn tốt nghiệp nha khoa rồi trở thành nha sĩ. Dầu vậy, chất men và ngọn lửa âm nhạc vẫn cứ âm ĩ trong anh. Thế rồi anh lao vào sáng tác… Nói về công việc sáng tác, nhạc sĩ Nguyễn Khải Hoàn tâm sự: “Đam mê âm nhạc là một nghiệp khó thoát ra. Tôi cũng nhờ thú đam mê này, nương theo cái nghiệp dĩ này, để gửi gắm chút tình riêng mỗi khi xúc cảm trần về”.
Đam mê nhất vẫn là xiếc
Sau 4 năm học tập tại Liên Xô cũ khi trở về, Mạnh Cường có chỗ đứng trong nền nghệ thuật xiếc với các tiết mục như Ru con, Nhào lộn, Anh thợ xây vui tính… Trong mỗi tiết mục của mình, ngoài những động tác khéo léo, chuẩn xác đến từng chi tiết nhỏ, anh đều lồng vào đó cái hồn, cái tâm của người nghệ sĩ yêu nghề. Năm 1995, Cường giành huy chương vàng và huy chương bạc trong cùng một lần hội diễn. Những năm gần đây, Mạnh Cường lại thử nghiệm mình trong lĩnh vực mới đó là các tiết mục xiếc hài. Xiếc hài có một lối diễn không giống nhau với các hình thức hài khác như tuồng, chèo, hay hài trong kịch mà chủ yếu gây tiếng cười qua hành động hoàn toàn không có lời. Dù là diễn một mình hay diễn cùng nhóm hài 3 người là Mạnh Cường – Duy Ánh – Tiến Hưng thì những động tác xiếc khéo léo vẫn đem đến cho người xem sự hồi hộp và những tiếng cười thoải mái. Ngoài diễn xiếc, Mạnh Cường cũng đã vài lần thử sức bên điện ảnh, với các vai phụ trong phim như Không có đường chân trời, Anh hùng râu quặp. Và mặc dù được khá nhiều đạo diễn mời đóng phim nhưng anh đều từ chối, chỉ dành một số thời gian rảnh rỗi vào vai phụ khi quá nể với đạo diễn. Với anh, xiếc vẫn là niềm đam mê duy nhất. Khi được hỏi dự định trong tương lai, anh đã trả lời: “Có lẽ từ nay tôi sẽ chuyên tâm hơn tới các tiết mục xiếc hài để mang đến cho công chúng những tác phẩm hay hơn, đặc sắc hơn”.
Thơ Qua tỉnh Hưng Yên
Phố Bần
Gọi Bần phố ấy đâu bần
Nào ai rách nát áo quần vi tương?
Dẫu tôi là khách qua đường
Em mời ngọt thế
Cũng thương thương … Bần!
Phố nối
ở đây nối đất với trời
nối mưa với nắng
nối vui với buồn…
tơ trời ai nối mà vương
buộc bao số phận vào đường ngược xuôi.
Phố Hiến
Đã từng sánh với Kinh kỳ
Phố như cô gái lỡ thì, ngẩn ngơ!
Nhìn cây nhãn tổ sang mùa
Chắc ngày bến cũ đường xưa chuyển mình!
(Xưa có câu ví: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”.
Liu Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Chuyện khiêng kiệu ở Bà Nà

Đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp tiến hành xây dựng biển Bà Nà nay thuộc xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng trở thành khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng có quy mô, tầm cỡ… thì người dân các làng dưới chân núi Bà Nà lại có thêm nghề mới, khá đặc biệt. Đó là nghề khiêng kiệu, khiêng cáng đưa những ông Tây, bà đầm lên thành phố trên mây nổi tiếng ở miền Trung đất Việt. Gọi là khiêng kiệu, nhưng thật ra ai muốn ngồi kiệu thì ngồi. Nếu không thích, có thể nằm trên cáng. Kiệu khác cáng ở chỗ, kiệu có ghế dựa để ngồi. Khách có thể vừa ngồi vừa ngắm núi, ngắm rừng, ngắm cả… vực thẳm sâu hun hút bên sườn núi. Còn đi cáng, chỉ có ngắm trời, ngắm mây mà thôi. Cho nên, khách đa phần ông Tây, bà đầm ưa ngồi kệu hơn nằm cáng. Và trong lúc khách thoải mái ngắm cảnh chừng nào thì phu khiêng kiệu, khiêng cáng càng mệt bờ hơi chừng nấy. Bởi mấy ông Tây, bà đầm ai nấy cũng to đùng, lắm thịt, nhiều mỡ, nặng bảy, tám chục ký trở nên. Người khiêng rõ ràng cực nhọc, vất vả. Ở các làng An Sơn, Phước Đông.. thời trước đã khai sinh ra nghề nghe rất lạ tai, nghề khiêng kiệu, khiêng cáng. Ở thời kỳ đầu, số lượng người khiêng kiệu, khiêng cáng được gán cho cái tên “Cu li”, lên hàng mấy trăm người. Nhưng không phải ai muốn làm là được. Họ phải đến nhà lý trưởng các làng căn cứ vào danh sách này để phân theo thứ tự. Cứ hết tốp này đến tốp khác, luân phiên với nhau. Do đoạn đường xa hàng chục cây số, lại luồn rừng, vượt suối nên người ta lập nhiều trạm, mỗi trạm cách nhau khoảng một cây số. Phu khiêng kiệu chờ sẵn ở các trạm. Khi có khách, đúng phiên ai người nấy ra khiêng không hề có sự tranh giành, cãi cọ. Nhiệm vụ của họ chỉ khiêng đến trạm kế tiếp sẽ có người thay thế. Nói chung Cu li làm công việc này phải là những người khỏe mạnh, thanh niên trai tráng, có sức có vóc. Người yếu, dù muốn cũng phải.. đứng xa mà ngó. Thế rồi, những năm về sau, khi tuyến đường từ An Ngãi vào chân núi Bà Nà về cơ bản hoàn thành xe có thể chạy đến nơi thì số cu li giảm đáng kể. Lúc này đa số là người xóm An Lợi, làng An Sơn. Kế đến mới tới các làng khác ở huyện Hòa Vang. Ngoài khiêng kiệu, khiêng cáng, họ còn vận chuyển vật liệu xây dựng công trình, nhà cửa, dọn dẹp vệ sinh, bảo dưỡng đường sá… Theo ước tính, tổng số cu li xấp xỉ cả trăm người. Ông Đào Kim năm nay đã 73 tuổi, người thôn Phước Đông, xã Hòa Ninh, cho biết: hồi nhỏ, thỉnh thoảng ông có theo cha mình là ông Đào Diễn, dân cu li khiêng ông Tây, bà Đầm. Khổ nhất là khi lên dốc, xuống dốc, cả người đi trước lẫn kẻ đi sau chốc chốc phải cúi người xuống. Gặp đoạn dốc nào dài, mệt muốn đứt hơi. Ông thổ lộ: Tuy vất vả nhưng thu nhập cũng khá. Sinh thời, nhờ làm thêm công việc này, cha tôi có đồng ra đồng vào, đỡ khổ hơn nhiều. Còn nếu chỉ bám vào nghề nông, nghề rừng thì khổ lắm, luôn thiếu trước hụt sau, chẳng dễ dàng gì. Có một câu chuyện kể khá lý thú, hấp dẫn còn lưu truyền trong nhân dân. Chuyện xảy ra trước cách mạng tháng tám năm 1945. Số là có một lần ông Hương Tám cùng đám cu li khiêng thuê một bà đầm trẻ đẹp. Đã thế, bà ta lại mặc váy. Cho nên, khi càng lên cao, gió thổi càng nhiều. Thỉnh thoảng, váy… tốc lên, trông cứ lồ lộ, xem rất đã con mắt. Vốn tính hay đùa cợt, ông Hương Tám buột miệng nói oang oang: Tụi bay ơ, khiêng đến chỗ nào kín kín chúng mình thử… làm một cái xem thế nào nghe? Cả bọn cười đắc ý. Bà Đầm cứ nằm im, không hề tỏ thái độ gì. Nghĩ bà ta không biết tiếng việt, ai nấy cũng thi nhau nói oang oang. Chẳng máy chốc, hộ đã khiêng lên đỉnh núi Bà Nà. Trong lúc ông Hương Tám và bạn bè rửa tay, rửa mặt qua loa thì bà đầm vội vàng vào thì thầm vào tai chồng, một viên sĩ quan Pháp. Thế là, khi họ kéo vào xin tiền cong, hai vợ chồng nó bất ngờ chụp lấy cây ba tong, cầm guốc… rượt đánh. Họ chợt hiểu, đâm đầu chạy trốn hết. Thì ra, bà đầm biết cả nhưng sợ, im thin thít, đợi đến khi gặp chồng mới nói. Hôm ấy, trên đường về không xu dính túi, mệt đứt hơi, lại bị rượt chạy chí mạng nên ai ai cũng đổ lỗi, kết tội ông Hương Tám, cho rằng vì ông, anh em mới ra nông nỗi này. Thôi chuyện lỡ rồi.. nếu biết trước tui dại gì đùa cợt. Ông Hương Tám phân bua, đã đành vậy. Nhưng đổ mồ hôi, sôi nước mắt mà không được xu nào hỏi ai không tức chứ!.
Phạm Hữu Đăng Đạt – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tháng năm về làng Sen

Đi khắp phương trời vẫn nhớ tới quê hương, người về đây thăm làng Trù quê mẹ và làng Sen quê cha… Lời ca đó đưa chúng tôi hòa cùng dòng người khắp mọi miền của Tổ quốc hành hương về quê vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi được biết, để phục vụ lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh nhật của Bác Hồ, Bộ văn hóa – Thông tin đã phối hợp với các ban ngành liên quan như Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Sở Văn Hóa thông tin, Sở Du lịch, Ban quản lý khu di tích Kiêm Liên, huyện Nam Đàn… lập và thực thi dự án đầu tư với tổng số là 17 tỷ đồng, nhằm tôn tạo và bảo tồn hiện trạng đối với các khu di tích làng Sen, làng Trù, khu mộ bà Hoàng Thị Loan. Đây là một địa điểm du lịch hấp dẫn vô giá của Nghệ An mà gắn với nó là điểm, tour du lịch về thăm quê Bác trong năm 2000 này và những năm tiếp theo. Hiện nay khu di tích Kim Liên đã thống nhất và nâng cấp xong một số hạng mục phục vụ khách du lịch đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, là điểm du lịch không chỉ phục vụ khách trong nước mà còn phục vụ tốt khách du lịch quốc tế. Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn tạo với kinh phí là 2,1 tỷ đồng đã đưa vào phục vụ khách tham quan đúng dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh nhật Bác. Cũng trong dịp này, lễ hội làng Sen lễ hội về thăm quê Bác được tổ chức bắt đầu từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 5 năm 2000, với quy mô lễ hội mang tính quốc gia với nhiều hoạt động vui chơi bổ ích, đa dạng và phong phú, có lẽ dâng hương tại khu di tích Kim Liên, tổ chức liên hoan tiếng hát làng Sen… Năm 1999 có 8.782 đoàn với gần 5 trăm nghìn lượt khách về thăm quê Bác, trong đó có 450 đoàn với trên 2 nghìn khách quốc tế thuộc 34 quốc gia trên thế giới. Chỉ tính riêng từ đầu năm tới nay – tháng 5 năm 2000 đã có 2.205 đoàn, trung bình mỗi đoàn từ 20 đến 25 người, khách quốc tế có 60 đoàn với 248 người thuộc quốc tịch khác nhau. Bà Võ Thị Chín – Trưởng phòng quản lý kinh doanh Sở Du lịch Nghệ An cho biết đã dẹp bỏ bớt các lều quán làm mất mỹ quan cũng như tệ nạn chèo kéo, ăn xin, ăn mày gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường của khu di tích. Đó là một bước tiến mới không chỉ riêng của khu di tích Kim Liên mà là sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành từ Trung ương đến địa phương. Điều đặc biệt hơn nữa là du khách đến với Kim Liên không phải đóng góp bất cứ một khoản lệ phí nào cả. Đó là đặc thù riêng chỉ có ở quê Bác. Nhiều đoàn khách trong nước và quốc tế khi đến tham quan đã đề nghị được đóng góp một phần kinh phí để xây dựng và tôn tạo khu di tích, nhưng cũng không được Trung ương và địa phương chấp nhận. Kim Liên – Nam Đàn hôm nay đang đổi mới để xứng đáng hơn nữa với cái tên Sen Vàng. Tôi chợt nhớ đến những dòng chữ trong cuốn sổ lưu niệm của khu di tích: “Chúng cháu nguyện phấn đấu xứng đáng với truyền thống của quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh, xứng danh anh Bộ đội cụ Hồ” (Thanh niên huyện Nam Đàn). Còn ngài Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Nhật Bản, Shoichim Tyazak đã viết: “Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại, một nhà yêu nước vĩ đại, một nhân cách vĩ đại, vinh quang và biểu tượng của loài người tiến bộ”. Chúng ta biết mấy tự hào: Người luôn luôn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè khắp năm châu.
Hương Sen -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Sương mù Luân Đôn đã biến mất

- Thủ đô Luân Đôn có hơn 7 triệu dân nhưng hàng năm tiếp đón 9,6 triệu khách du lịch đến tham quan. Hơn 1 triệu sinh viên nước ngoài đang học tập tại đây.
– Ngày sinh Nữ hoàng Elizabeth là ngày Quốc khánh.
Kỳ I: Luân Đôn “sương mù”
Chiếc xe bus sang trọng dừng lại gần khách sạn ngay ở trung tâm Luân Đôn. Chỉ mấy bước chân bạn đã thấy ngay ấn tượng đầu tiên về nước Anh: hầu hết đội ngũ nhân viên phục vụ trong khách sạn là người da màu gốc châu Phi, Ấn Độ, Pakistan….Tại nhà hàng “Mac – Donalds” bạn cũng toàn thấy nhân viên phục vụ là những thanh niên da màu khỏe mạnh mặc đồng phục thắt nơ. Chẳng thế mà người ta thường nói đùa rằng: Luân Đôn hình như là thành phố của người da đen!
Khi chưa đến Luân Đôn bạn hình dung nó là thành phố của sương mù, khói và mưa. Song, ngay cả vào mùa xuân ở Luân Đôn cũng không hề thấy một đám mây mù nào, chỉ thấy toàn ánh nắng mặt trời ấm áp. Nhiệt độ trung bình tháng giêng là +8 – 10oC (trong khi đó nhiệt độ ở Matxcơva -10oC). Tháng 3 tháng 4 nhiệt độ ở 10oC giao động từ +10oC đến +12oC thật lý tưởng cho những tour du lịch ngắn ngày. Hơn nữa, theo số liệu của trung tâm khí tượng thủy văn Anh, lượng mưa ở Luân Đôn ít hơn bất kỳ một nước châu u nào khác.
– Trước đây Luân Đôn có nhiều sương mù nhưng chúng đã biến mất khi chúng tôi không sưởi bằng than nữa – Người gác cửa khách sạn giải thích như vậy.
Vậy ai là người đã chọn tính ngữ “sương mù” cho thủ đô Luân Đôn ? Các chuyên gia lớn nhất về lịch sử Anh quốc đều không biết chính xác chuyện này.
Luân Đôn là một trong mười thành phố lớn nhất thế giới. Mặc dù thủ đô Vương quốc Anh chỉ có 7 triệu dân song hàng năm tiếp đón trên 9,6 triệu khách du lịch đủ mọi quốc tịch đến tham quan, nghỉ ngơi (chưa kể 1 triệu sinh viên nước ngoài học tập tại đây).
Luân Đôn ngày nay trải dài hơn 15km dọc hai bờ sông Temza. Về diện tích nó được xem là thành phố lớn nhất châu u. Hệ thống tàu điện ngầm Luân Đôn rất phức tạp, được xây dựng đã 100 năm nay nên có quyền tự hào như là hệ thống tàu điện ngầm lâu đời nhất thế giới. Còn bây giờ bạn hãy nghe mấy lời khuyên bổ ích: -Tàu điện ngầm ở Luân Đôn khá đắt ! Vé đi một chiều trong một khu vực giá khoảng 1,2 Bảng. Nếu bạn đi sang khu vực khác phải trả 1,5 Bảng. Vì thế, tốt nhất nếu mua vé đồng loạt dùng cho cả ngày giá 3,2 Bảng. Loại vé đồng loạt này được bán tại các ga tàu điện ngầm sử dụng cho các loại phương tiện giao thông trong vòng 24 giờ. Có thể mua vé một lần cho cả tuần (vé tháng, vé ngày, vé tuần….). Vé này bạn chỉ mất 16 bảng. Nhưng đối với loại vé như vậy bạn chớ quên mang ảnh ở nhà theo người để nhân viên soát vé kiểm tra. Ở dưới tàu điện ngầm Luân Đôn các cửa tự động cho hành khách đi vào, đi ra hoàn toàn theo loại vé bạn mua. Bạn chớ quên lấy lại vé của mình nếu nó là loại sử dụng nhiều lần.
Tour du lịch Luân Đôn bao gồm những địa điểm nào? Có thể kể ra đây một số địa điểm: pháo đài cổ Tower, tháp Big Ben, tu viện West-minter, nhà thờ Thánh Pavel, quảng trường Trafalgar, cung điện Bucking-ham, viện bảo tàng Anh….Trong số tất cả những nơi kể trên pháo đài cổ Tower gây ấn tượng sâu sắc đối với khách du lịch. Tower đã xây dựng được hơn 700 năm, đây là nơi đã từng giam cầm Tomas Mor và Eduar Piatui. Cũng tại pháo đài Tower, Vua Henric VIII đính hôn với người vợ đầu tiên của mình sau đó ông đã xử tử người vợ thứ 2 và thứ 5. Trong pháo đài cổ ngày nay còn giữ được bộ sưu tập phong phú nhất gồm các loại vũ khí thời trung cổ cùng đồ dùng bằng vàng bạc, châu báu của các vị vua chúa. Mặc dù vé vào cửa thăm quan quá đắt: 8,3 Bảng (hơn 10 USD) nhưng rất đông khách du lịch vẫn xếp hàng để đợi đến lượt vào thăm Tower. (Nếu bạn đi cùng gia đình xin nhớ mua loại vé gia đình vì như thế cho phép bạn tiết kiệm được chút ít).
Ngoài phái đài Tower, tháp Big Ben nổi tiếng du khách không thể không đến thăm cung điện West-minter, nơi diễn ra các buổi lễ đăng quang của nhiều thế hệ vua nước Anh. Tại đây còn có nhà thờ được xây dựng năm 1245 dùng làm hầm mộ chôn cất chính các vị vua đó ! Cũng đặc biệt thú vị khi bạn đến thăm điện Buckingham. Từ thời Nữ hoàng Victoria nó là đích thực của Vua chúa. Nếu cờ ở Buckingham kéo lên nghĩa là Nữ hoàng có ở nhà, khách khứa cứ trông lá cờ mà biết có thể đến tiếp kiến Nữ hoàng được hay không ? Kể từ tháng 9/1993 một phần Cung điện Buckingham đã mở để cho khách vào tham quan với giá vé vào cửa 8 Bảng Anh. Như vậy, Hoàng Gia chẳng những sẵn sàng đóng thuế mà còn kinh doanh kiếm tiền nhờ vốn…”tự có” của mình (khách du lịch rất muốn vào xem nơi ở của Nữ hoàng Elizabeth). Nếu bạn đến Luân Đôn đúng mùa du lịch đảm bảo bạn sẽ phải xếp hàng dài dằng dặc để được vào Cung điện Buckingham tham quan. Trước khi vào Cung điện Buckingham du khách còn được xem cảnh đổi gác – một trong những phần bắt buộc của các tour du lịch. Tốt nhất bạn nên đi sớm thì mới hy vọng chiếm được một chỗ ngay cổng Cung điện xem lính cận vệ kỵ binh đổi gác cách ngày 1 lần vào lúc 11 giờ 30.
Nguyễn Đức Hải – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Vải Lục Ngạn “mặc tin đồn thất thiệt vẫn hái ra vàng”

Chúng tôi lên Lục Ngạn khi giá vải thiều ở Hà Nội đã tăng vọt lên 20.000 đồng/kg. Đang lúc mút mùa, anh Lanh, cán bộ Sở Giáo dục Bắc Giang, một trong các “trùm vải” giới thiệu: “Quãng đường này khi vải rộ hoàn toàn ách tắc. Đủ các loại xe về ăn vải, các dòng vải ùn ùn chảy ra từ những đồi vườn”. Bây giờ thì con đường lại vắng vẻ, yên tĩnh. Cái yên tĩnh muôn đời của miền rừng. Ven đường những đồi vải mới hai – ba năm tuổi xanh khiêm tốn trên nền đất nâu. Những đồi vải năm sáu năm tuổi đã cho thu hoạch có riêng màu xanh ngắt của những tán cây vườn rộng. Một vài nhà phơi đầy vải khô trên sân nắng.
Xe đến xã Quí Sơn, một xã vươn lên mạnh mẽ nhờ có vải và được nhận cờ thi đua của Chính phủ năm 1998. Bí thư Đảng ủy xã Hỉ Văn Lì, Chủ tịch xã Trần Lương mời mọi người “uống nước” bằng vải tươi, những chùm vải cuối cùng của mùa thu hoạch. Quí Sơn với diện tích 4.000 ha quả là một địa bàn lý tưởng cho vải. Có 2 – 300 hộ trồng từ 500 gốc vải trở lên. Có lẽ phải lập câu lạc bộ 1.000 cây. Đặc biệt xã lại có hồ Làng Thum, một hồ nước nhân tạo làm thay đổi khí hậu tiểu vùng, vừa cung cấp nước cho nông nghiệp vừa có nguồn lợi thủy sản. Các anh cho biết năm năm nữa, xã và huyện sẽ phát triển du lịch miệt vườn. Cả đoàn được mời lên xuồng máy bồng bềnh trên mặt nước xanh ngọc, lướt qua trại vải nổi tiếng của thầy Vũ Huệ một trong những ông trùm vải cự phách của Lục Ngạn. Thầy Huệ người Gia Lương, là giáo viên Vật lý trường Trung học Lục Ngạn. Khi giáo dục thực hiện giảm biên, thầy là người đầu tiên nghĩ đến chuyện “khai phá” đất đồi hoang để làm vải. Bao nhiêu tiền của thầy “đổ” vào cho vải tuốt. Cả xe máy cũng bán. Bấy giờ ai cũng nghĩ là “hâm” như thầy. Nước hồ Làng Thum đã ngập gần 1/3 số gốc vải của thầy Huệ, nhưng tất cả đã được thu hoạch đã được chiết cành.Gia đình thầy có khoảng 4.000 cây vải…
Trưởng phòng giáo dục Lục Ngạn Trần Đoàn Dũng cũng là một chủ vườn đáng nể. Các thầy giáo cô giáo trường Phổ thông trung học Lục Ngạn theo thầy Mai Văn Sinh hiệu trưởng cho biết: Trường có 10 thầy mỗi người có hơn 100 cây vải. Có thời các thầy cô giáo thích đùa thấy thiên hạ tính chỉ, tính cây, bèn tính tài sản 6,7 cây cho oai, nhưng chỉ là cây ớt, cây chuối, cây rau ngót….Bây giờ ở Lục Ngạn có thể đàng hoàng tính mỗi cây vải là một cây vàng. Trường Dân tộc nội trú Lục Ngạn có hàng ngàn cây vải trong khu vườn đồi mênh mông. Trường Phổ thông trung học Lục Ngạn không có vải riêng, nhưng tọa lạc trên khuôn viên 3,7 ha tức là 37.000 m2. Nhà cửa cơ ngơi khang trang chẳng thua kém gì trường Fairvale ở New South Wels, Australia mà tôi và Giám đốc Sở Giác dục đào tạo Bắc Giang Nguyễn Ngọc Sơn có dịp ghé thăm. Nhờ cây vải lên ngôi mà đời sống các thầy cô ở Lục Ngạn cũng thay đổi đáng kể. Người nhiều thì sáu, bảy chục hay 100 triệu, người ít thì cũng có hai, ba triệu tiền vải. Cây vải có nết hay là dễ tính, không đòi hỏi chăm nom hàng ngày, nên thầy giáo và học sinh không bị cây làm ảnh hưởng chất lượng dạy và học.
Thời gian gặp gỡ với anh Giáp Văn Chí, phó Chủ tịch huyện Lục Ngạn quá ngắn. Nhưng tôi đã kịp phỏng vấn anh chớp nhoáng: Anh Chí cho biết dân Lục Ngạn 95% có vườn. Vườn nho nhỏ cũng có từ 25 đến 50 cây vải. Năm 1993 cả huyện có 52% hộ nghèo đói, tính đến ngày 1/8/1998 con số này còn 17%. Có khoảng 28 – 30% số hộ thu nhập khoảng 20 – 30 triệu một năm. Kế hoạch phấn đấu của huyện hết năm 1999 chỉ còn 10% hộ nghèo. Về sự giàu có vượt lên anh chỉ nêu ra ví dụ xóm Khả Lã xã Tân Lập, thuê cả một ô tô tải chở xe máy mới mua về.
Được hỏi về vải vừa rồi, anh Chí bảo: chúng tôi bị thua thiệt chừng 60 tỷ. Người ta cho rằng tại tin đồn thất thiệt. Điều đó cũng có, vì đúng lúc vải chín rộ mà Hà Nội ngừng mua. Các nơi khác cũng cắt hợp đồng. Khi nối lại thì giá không lên nổi nữa. Nhưng cũng phải thấy rằng vải Lục Ngạn đã tăng gần gấp đôi sản lượng năm trước. “Đầu ra” vẫn là bài toán khó giải cho huyện và tỉnh. Đành rằng cả nước 61 tỉnh thành nhưng vải Lục Ngạn đâu đã đi khắp nước. Chế biến tại chỗ, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, chỉ có thế thì giá vải mới ổn định. Nếu sang năm sản lượng vẫn tiếp tục tăng gấp rưỡi, gấp đôi năm nay mà khâu tiếp thị, chế biến không tốt thì nhân dân Lục Ngạn còn thua thiệt…
Tôi đồng cảm với anh Chí và các đồng chí lãnh đạo của Lục Ngạn của Bắc Giang. Nhưng dẫu sao thì mùa vải vừa rồi vẫn là mùa hái ra vàng của người Lục Ngạn. Chúng tôi cùng nâng chén mừng và cầu chúc cho mùa vải mới.
Quang Lục – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Gặp các cô đầm ở xứ ta

Tôi là người Mỹ du lịch
Xuống Xí nghiệp quản lý đường sắt Thuận Hải ở Tháp Chàm, ô tô đưa tôi về một đơn vị bảo dưỡng đường sắt ở Cà Ná.
Qua kính chắn gió, một chấm trắng xuất hiện phía xa xa cứ to dần. Tôi nhìn rõ một người đi xe đạp đang gò lưng trên đường thiên lý với chiếc túi du lịch căng phồng và chiếc lốp dự phòng trên giá đèo hàng. Khi chiếc xe Toyota của chúng tôi nhấn còi, người guồng xe đạp từ từ giạt sang bên đường. Tôi đưa mắt nhìn qua khung kính. Một người mắt xanh, mũi dọc dừa, đầu đội mũ bảo hiểm, quai mũ kéo xuống cằm quay sang nhìn chúng tôi. Nắng chói chang của miền đất “ba ninh, một rang” (Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Hoà) đã nhuộm da người đang guồng xe đỏ au như con tôm luộc. Chúng tôi vẫy chào, người guồng xe quay đầu nhìn chúng tôi rồi cúi đầu chào đáp lễ. Một ông tây ba lô…
Đến Cà Ná, chúng tôi vào khách sạn Đường sắt ăn cơm chiều. Bất ngờ gặp ông Tây lúc trước. Không! Không phải! Đó là một cô gái người Mỹ. Tên cô là Erika Warmbrum.
Cô kể: – Ngày 4 tháng 2 tôi tới Lạng Sơn xin thị thực nhập cảnh rồi đạp xe về Hà Nội. Thăm Hà Nội mấy ngày tôi lên đường đi Thanh Hoá, Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang và bây giờ tôi nghỉ ở Cà Ná.
Trên chặng đường dài ấy có chuyện gì lý thú chị kể cho vui đi.
Erika vừa nói vừa lấy tay minh hoạ diễn biến câu chuyện: – Theo bản đồ đấy là địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Đến gần tối tôi đạp xe qua một khu rừng, tôi không xác định được mình đang ở đâu. Trăng từ từ lên. Cánh rừng nhiệt đới tràn ngập trong ánh trăng đã giữ chân tôi lại vì vẻ đẹp thần kỳ cả đời tôi mới thấy có một lần. Tôi rải chăn lên thảm cỏ rồi nằm ngắm trăng. Sau một ngày đường đạp xe dưới cái nắng gay gắt của vùng nhiệt đới, tôi chợp mắt lúc nào không biết. Nghe tiếng chim ríu rít, tôi vội mở mắt ra. Tôi ngồi dậy ngắm cảnh bình minh trong khu rừng nhiệt đới. Bỗng có một đoàn người đang đi về phía tôi ngồi, lưng người nào cũng dắt một con dao rất to và rất dài…
Nói đến đây Erika ướm hai gang tay trên mặt bàn ước lượng chiều dài của lưỡi dao rồi ngẩng đầu lên nói tiếp:
… Tôi vội đứng ngay dậy vừa trỏ tay vào ngực vừa nói bằng tiếng Việt: Toi la nguoi My du lich. Họ phá lên cười rồi giơ tay chào tôi: Good morning. Người trẻ nhất giơ tay vẫy vẫy: Welcome to Vietnam. Họ chạy đến chỗ tôi, tôi cũng chạy đến với họ. Một cuộc gặp gỡ tuyệt vời. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng mắt, tôi không đủ tiếng Việt để nói chuyện với họ và họ cũng không đủ tiếng Anh để nói chuyện với tôi.
Tôi mỉm cười:
Họ cũng biết một số câu tiếng Anh đấy. Hồi chiến tranh nếu gặp một lính Mỹ, họ sẽ thét lên Don’t move (không nhúc nhích), Lay down arms (hạ vũ khí xuống), Hands up (giơ tay lên), Surrender (Đầu hàng đi)…
Erika cũng cười theo rồi nói tiếng Việt không có dấu:
Toi la nguoi My du lich.
Chúng tôi tạm chia tay nhau.
Anh bạn và tôi vẫn ngồi tiếp tục uống nước. Erika vác đồ đạc lên phòng rồi xuống sân với bộ đồ tắm màu xanh nước biển trên người. Cô đi thẳng ra bãi biển, nhảy ào xuống nước, lao vào con sóng đang trườn tới.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau ở phòng ăn của khách sạn Đường sắt.
Tôi hỏi Erika:
Chị đã đi dọc chiều dài đất nước chúng tôi, chị cho biết cảm tưởng về chuyến đi này.
Vẫn nụ cười nở trên môi, Erika vừa nói vừa chia từng ngón tay giữ nhịp:
Đất nước của các bạn thật tuyệt vời, phong cảnh độc đáo, màu xanh bao trùm lên núi đồi, đồng ruộng. Giá cả sinh hoạt ở Việt Nam rất rẻ, lĩnh lương ở Mỹ nhưng lại tiêu tiền ở Việt Nam, mỗi tháng chúng tôi thừa nhiều tiền tiết kiệm. Con gái Việt Nam mảnh mai duyên dáng, có vẻ đẹp tự nhiên, càng nhìn, tôi càng thấy quý mến, chỉ có con trai Việt Nam là nhút nhát.
Nổi máu Đại Cồ Việt lên, anh bạn tôi nói luôn:
Nếu ngay bây giờ tôi muốn cùng đi với Erika vào Thành phố Hồ Chí Minh, Erika có còn chê thanh niên Việt Nam nhút nhát nữa không?
Thật bất ngời cho chúng tôi, Erika ngửa tay về phía trước rồi nói bằng tiếng Việt không có dấu:
Xin moi, xin moi, toi xin moi.
Anh bạn tôi vẫn đùa dai:
Nhưng tôi không có xe.
Erika cười:
Thì hai chúng mình đi chung một xe.
Thấy anh bạn tôi đang ngập ngừng tìm câu trả lời, Erika vừa cười vừa nhìn hai chúng tôi.
Đấy các anh xem có đúng là con trai Việt Nam nhút nhát không?
Chúng tôi chia tay nhau.
Trên đường trẻ về Phan Rang, anh bạn tôi gật gù:
Đúng là con cháu Scarlet.
Rồi anh bắt chước Erika nói tiếng Việt:
Toi la nguoi My du lich. Xin moi xin moi.
Cả chuyến đi anh chẳng hề nhắc đến cô gái nào anh đã gặp trên chặng đường thiên lý, bây giờ anh mới nhắc đến Erika Warmbrum.
Vũ Bão – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Ách tắt đoạn đường vào rừng Nam Cát Tiên

Rừng cấm Nam Cát Tiên đã được nâng cấp thành rừng quốc gia từ tháng 3/1992 với diện tích 36.000 ha, thuộc huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Rừng mang nhiều tính nguyên sinh, tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Đây là nơi du lịch sinh thái rất lý tưởng để nghiên cứu, tìm hiểu động thực vật và đời sống hoang dã. Du khách dễ dàng hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên, tận hưởng không khí trong lành mát mẻ.
Vừa qua chúng tôi (lớp hướng dẫn viên Du lịch II của trường Trung học nghiệp vụ du lịch & khách sạn Thành phố Hồ Chí Minh) đã đi thực tập tại rừng Nam Cát Tiên để tìm hiểu về du lịch sinh thái (Ecotourism). Chúng tôi khởi hành vào lúc 6h30 sáng và dự kiến là khoảng 10 h sẽ đến cửa rừng. Song từ chợ Định Quán vào rừng với 30 km đường đất đỏ gập ghềnh, nhiều ổ gà, ổ voi làm khó khăn trong việc vận chuyển đặc biệt với các loại xe bus lớn, nhất là vào mùa mưa, kéo dài thời gian chờ đợi. Cộng với cái nắng ban trưa gay gắt càng dễ làm cho người ta cảm thấy uể oải khó chịu. Sinh viên chúng tôi hết ngồi lại đứng, lên xuống xe năm bảy bận, vừa đi bộ chốc chốc lại vừa hiệp sức đẩy xe qua những đoạn đường lầy lội. Khi đoàn thực tập viên chúng tôi đến nơi thì cũng đã đứng trưa. Phong cảnh thật hùng vĩ, không khí trong lành dễ chịu. Trước khi vào rừng, đoàn chúng tôi phải làm các thủ tục cần thiết của cơ quan kiểm lâm tại địa phương và sau đó được sự hướng dẫn của một ảnh bảo vệ rừng đưa chúng tôi xuống bến ghe để qua sông vào rừng. Đến bến ghe thì các anh lái ghe đã nghỉ trưa, chúng tôi đành ngồi đợi gần một tiếng đồng hồ. Trong lúc chờ đợi, một anh bạn trong đoàn chúng tôi tỏ vẻ sốt ruột nói: “Chờ lâu quá, phải chi Nhà nước quan tâm hỗ trợ xây dựng cầu bắc qua sông, mà tốt nhất là kiểu cầu treo để tiện cho khách vào rừng thì hay biết mấy?” Đoàn chúng tôi cũng tán thành ý kiến và mong muốn điều ấy sẽ thành hiện thực. Đồng thời cộng với sự quan sát và hỏi thăm của chúng tôi thì được biết tại rừng còn thiếu đường dây điện thoại liên lạc trực tiếp với bản quản lý rừng, cơ sở hạ tầng phục vụ cho khách trong rừng còn rất khiêm tốn. Hệ thống cấp cứu và bảo vệ cho du khách cũng hạn chế. Các bảng chỉ đường hoặc hướng dẫn trong rừng dành cho khu vực tham quan của du khách và các trạm dừng chân rất ít thấy. Thiết nghĩ ngành du lịch Việt Nam đang từng bước hoàn thiện và phát triển cùng với du lịch của các nước, mong rằng Nhà nước cần quan tâm hơn nữa về vấn đề đầu tư vào du lịch, cải thiện cơ sở hạ tầng đường xá, cầu cống, nâng cấp và xây dựng nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống phục vụ khách du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những nước có nhiều bãi biển sạch
Quỹ giáo dục môi trường châu u có trụ sở tại Pháp vừa công bố kết quả nghiên cứu của mình về việc xếp hạng các bãi biển du lịch sạch, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường. Theo kết quả, Pháp đứng đầu danh sách này với 399 bãi biển sạch. Sau Pháp là các nước như Tây Ban Nha có 391 bãi, Đức – 318, Đan Mạch – 176, Bồ Đào Nha – 115 bãi biển.
Quỹ trên cũng quyết định trao “Lá cờ xanh châu u” năm 1999 cho các thành phố, khu nghỉ mát đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường. Năm 1999, Lá cờ xanh được trao cho 131 thành phố, đô thị của Pháp. Tổ chức tư nhân có uy tín này cũng trao cờ xanh cho một loạt các cảng của châu u đáp ứng ba tiêu chuẩn: chất lượng môi trường nói chung đảm bảo, chất lượng vùng nước ở cảng và chất lượng giáo dục môi trường. Theo tiêu chuẩn này, năm 1999, có 163 cảng của Đức được trao lá cờ xanh so với Tây Ban Nha có 87, Đan Mạch – 79, Pháp – 77, Thụy Điển – 45 và Italia – 44 cảng.
Nguyễn Trung Toàn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999