Bếp mở “Open kitchen” Oven D’or

Bếp mở “Open kitchen” Oven D’or của khách sạn Sheraton Hanoi vào những ngày cuối tuần thu hút khá đông thực khách, cả người đang lưu trú ở khách sạn và cả thực khách từ bên ngoài vào. Khách vòng trong vòng ngoài tay cầm dĩa, tay cầm phuốc sét bị thôi miên bởi thao tác của những đầu bếp lành nghề đang chế biến món ăn ngay trước mắt. Mỗi bữa tại “Open kitchen” của Sheraton luôn có 8 món nóng chế biến từ các loại thực phẩm nhập khẩu từ nhiều quốc gia: thịt bò Autralia, cừu New Zealand, cá hồi Nhật Bản…

Đọc tiếp Bếp mở “Open kitchen” Oven D’or

Khi trẻ con hát nhạc tình – Phần 2

Tội nghiệp lứa tuổi “cà rem”
Sau những nụ cười dành cho sự ngây thơ, dốc hết sức mình để diễn của các ca sĩ nhí, hầu hết những người chúng tôi tiếp xúc đều có chung ý nghĩ rất hoan nghênh về việc đào tạo “đội ngũ kế thừa”, nhưng sự thương cảm dành cho con trẻ còn lớn hơn! Sao lại dạy cho các cháu hát những bài ca dành cho người lớn, trong khi những bài ca của tuổi thơ thì không thiếu, rất dễ lựa chọn cho phù hợp với phong cách của từng cháu. Anh H, một trong những nhạc công chơi trống có tiếng của đất Sài Gòn đã tỏ ra rất bực bội khi đề cập đến chuyện “ca sĩ nhí” hát nhạc tình và nói: “Đây là điều không thể chấp nhận được! Chỉ vì đồng tiền mà những người thân đã hướng con mình đi làm trò cười. Nếu việc đào tạo này có sản sinh ra sao thì cũng chỉ là sao kém phẩm chất. Vì từ bé chúng nó chỉ biết có tiền”. Quả thật, trước khi ca bài Hãy cho tôi, ông “bầu” của “ca sĩ Bé Châu” đã chỉ đạo một đoạn phát biểu nhằm khêu gợi lòng thương của khách là “Bao nhiêu tiền khán giả cho con đều bị ông ngoại móc hết… Nên hôm nay, con sẽ ca bài Hãy cho tôi”??? Anh N, ở phường 5, quận 10 cho biết, một trong những lần đi xem biểu diễn, anh được nghe một ca sĩ thốt lên một cách vô cảm với người thân: “Xong rồi, mình ra lãnh tiền… về thôi!”. Anh N. nhận xét: “không khéo nó sẽ sớm bị… hư hỏng”. Luật gia Thắng, hiện làm công tác tư vấn pháp luật cho một công ty dầu khí có trụ sở đóng tại thành phố Hồ Chí Minh, cho ý kiến: “Tôi thật sự thương nhưng không nín được cười lúc nghe: khi yêu đừng nên dối trá… em về đi, chia tay người ơi… (bài Đừng lừa dối) do Duy Phước ca. Lứa tuổi này chỉ nhớ cơm, sữa, cà rem… và chỉ có yêu thương cha mẹ, ông bà. Vậy thì nó yêu, nhớ ai và khuyên ai đừng lừa dối? Cho trẻ ca những lời mà nó không hiểu là “cú sốc” tâm sinh lý. Ở lứa tuổi hiếu động khiến nó bất bình thường, không có lợi cho bản thân và xã hội trong tương lai”. Thế mà hình ảnh các ca sĩ nhí vẫn được căng băng rôn, “đóng đinh” vào gốc cây tại… các tụ điểm ca nhạc từ nội đến ngoại thành. Anh Hùng, ngụ tại đường Lý Chính Thắng, quận 3, còn gay gắt hơn: “Dùng trẻ hát những bài tình ca giật gân để thu lợi từ người mua vui, giải trí là… thiếu lành mạnh, không có đạo đức nghề nghiệp, vi phạm luật bảo vệ trẻ em…”

Đọc tiếp Khi trẻ con hát nhạc tình – Phần 2

Khi trẻ con hát nhạc tình – Phần 1

Gần đây, dư luận lên tiếng nhiều về những hiện tượng trẻ em hát nhạc người lớn ở nhiều tụ điểm ca nhạc. Thậm chí, trên thị trường cũng đã xuất hiện những CD, VCD… tuy nhãn mác có khác nhau nhưng nội dung vẫn là lồng ghép các tiết mục hài và các “ca sĩ nhí” hát những bài tình ca ủy mị. Sau một thời gian “ra mắt” bàn dân thiên hạ, các “ca sĩ nhí” đã phát động được phong trào “con nít” hát tình ca và không ngững được hỗ trợ nhằm định vị trên một số sân khấu và trôi nổi (trong tiệc cưới, quán nhậu, chương trình “hát với nhau”…).

Đọc tiếp Khi trẻ con hát nhạc tình – Phần 1

Vì sao người vùng nhiệt đới thấp hơn người vùng ôn đới?

So với người dân sinh sống ở vùng ôn đới, người dân ở vùng nhiệt đới ẩm và xích đạo thấp bé hơn. Thậm chí ở xích đạo Tây Phi có bộ lạc người Pích- mê, nam giới cao không quá 1,3m còn nữ giới chỉ dưới 1m. Không chỉ là người mà các động vật cũng vậy. Các loại động vật ở vùng ôn đới như gấu, ngựa, chó, hổ… nói chung đều to lớn so với cùng loài sống ở nhiệt đới ẩm. Trong thiên nhiên tồn tại dây chuyền thức ăn: đất- thực vật- động vật ăn cỏ- động vật ăn thịt- con người. Có thể giải thích dây chuyền này như sau: đất nuôi cây cỏ, cây cỏ nuôi các động vật ăn cỏ và đến lượt động vật ăn cỏ lại là thức ăn cho các động vật ăn thịt. Con người đứng ở cuối dây chuyền thức ăn, sử dụng cả thực vật lẫn động vật. Trên cơ sở đó mắc xích của dây chuyền này, nhà địa hóa Liên Xô( cũ) A. I. Pereman cho rằng, đất ở vùng xích đạo và nhiệt đới ẩm thường phì nhiêu, nghèo nàn và khó tiêu. Các chất kiềm, nhất là canxi và magiê cũng thiếu trầm trọng do mưa nhiều và bị rửa trôi mạnh. Các nguyên tố vi lượng như iốt, côban… rất cần cho con người và động vật cũng thiếu, đặc biệt là ở miền núi. Tính chất kém phì nhiêu của đât nhiệt đới ẩm đã ảnh hưởng tới tầm vóc của con người mà chủ yếu là do sự thiếu hụt về canxi và phốt- pho( gây ra bệnh còi và lùn), sự thiếu hụt về sắt( gây ra bệnh thiếu máu), sự thiếu hụt về natri( gây ra triệu chứng mệt mỏi). Như vậy, các mắt xích của dây chuyền thức ăn ở nhiệt đới ẩm kém thuận lợi cho sự phát triển của động vật và con người. Theo nhiều nhà khoa học, con người và động vật ở nhiệt đới ẩm tiếp thu về thức ăn nghèo prôtít và các chất khoáng cần thiết. Do đó, trong quá trình tồn tại lâu dài và để thích nghi với môi trường sống thì cơ thể con người và động vật phải thu nhỏ tầm vóc lại. Các nhà địa hóa xếp lớp vỏ phong hóa ở ôn đới thuộc nhóm sialít – cácbônát. Các thành phần tiêu biểu của tầng đất tại đây là canxi, magiê, natri. Như vậy, những nguyên tố cơ bản của thổ nhưỡng nhiệt đới ẩm thiếu thì ở ôn đới lại rất giàu mà nguyên nhân là do lượng mưa ở ôn đới chỉ bằng 1/3 nhiệt đới ẩm, cường độ rửa trôi các ion hóa học trong đất ít. Do tính chất lớp đất trên mặt phì nhiêu nên việc chăn nuôi ở ôn đới thuận lợi hơn nhiều so với nhiệt đới ẩm. Cỏ chăn nuôi ở ôn đới đại bộ phận là cỏ họ đậu, mềm, nhiều chất dinh dưỡng, trong khi đó ở nhiệt đới ẩm lại chủ yếu là cỏ tranh cứng và sắc cạnh không thuận lợi cho chăn nuôi trâu bò. Vì chăn nuôi thuận lợi nên sản lượng sữa ở vùng khí hậu ôn đới rất lớn và sữa trở thành một thực phẩm thường xuyên có mặt ở các bữa ăn hàng ngày của người dân ôn đới. Do chăn nuôi dễ dàng mà các loại thực phẩm khác như thịt, trứng, cá cũng rất nhièu và đó là nguyên nhân vì sao tỷ lệ các trẻ em suy dinh dưỡng ở ôn đói thấp hơn nhiều so với nhiệt đới ẩm. Do được thừa hưởng một dây chuyền thức ăn tói ưu trong thiên nhiên như vậy nên người dân ở vùng ôn đới có tầm vóc và thể lực cao, to hơn hẳn người ở nhiệt đới ẩm.

Đọc tiếp Vì sao người vùng nhiệt đới thấp hơn người vùng ôn đới?

Rong ruổi với thuyền buồm

Thuyền buồm hạng sang không đơn thuần là phương tiện vận chuyển mà thực sự là một cung điện nổi. Người ta phải chi từ 30 đến 400 ngàn euro để được sở hữu nó trong một tuần. Loại thuyền này thường dài tới 60- 70m, có 3- 4 khoang, được trang bị một hệ thống thừng chảo dày đặc. Ngoài phòng ngủ, phòng khách với nội thất sang trọng, nhà bếp với đầy đủ tiện nghi, trên thuyền còn có bể bơi nước ngọt, thậm chí có cả sân bay trực thăng. Trên thuyền luôn có đầy đủ trang thiết bị để khách có thể chơi các loại hình thể thao dưới nước. Còn về mức độ tiện nghi thì khách sạn năm sao nào cũng có thể sánh ngang với các lọai thuyền này. Đi kèm với nó bao giờ cũng có một thủy thủ doàn đông đủ( từ thuyền trưởng cho đến người bồi bàn) đầy kinh nghiệm. Chẳng hạn như bếp trưởng ở đây có thâm niên ít nhất mười năm làm việc trong các khách sạn năm sao. Thuyền bồm hạng trung không có nghĩa là thuyền buồm “trung bình” về tiện nghi.nó xa xỉ chẳng kém gì thuyền hạng sang, chỉ có điều là kích thước khiêm tốn hơn( dài khoảng 20- 30 m). Trên thuyền cũng có thủy thủ đoàn nhưng thường chỉ gồm 2- 5 người( thuyền trưởng, thủy thủ, đầu bếp, tiếp viên). Bời vậy tièn thuê thuyền không quá cao: chỉ từ 8-15 ngàn euro một tuần. Bình dân nhất là loại thuyền buồm bareboat- tức là loại thuyền không nhất thiết phải có thuyền trưởng đi kèm vì khách có thể tự lái. Chi phí cho một chuyến thuyền buồm bareboat tùy thuộc vào số người tham gia bởi vì nó được chia đều cho đầu người. Thuyền càng lớn chi phí càng cao nhưng lại chở được đông người nên số tiền mà mỗi người phải trả nói chung cũng tương tự. Cước vận chuyển còn tùy thuộc vào lộ trình mà khách chọn lựa: đi đâu, dừng ở địa điểm nào trong bao lâu. Nói chung, các loại thuyền hiện đại đều được chế tạo bằng nguyên liệu đặc biệt, có độ nổi rất tốt nên du khách không bao giờ phải lo đến chuyện đắm thuyền. Về chuyện ăn uống dọc đường, nếu đi với thủy thủ đoàn thì đã có đầu bếp phục vụ, nếu đi tự túc thì khách phải tự chuẩn bị bữa sáng và trưa, còn bữa tối có thể ăn tại các quán khi thuyền cập bến tại một đảo nào đó. Nhiên liệu và nước ngọt thì đã các trạm dọc đường cung cấp. Những tay đi thuyền buồm thì phải có bằng. Nhiều trường học ở châu  u đã tổ chức đào tạo và cung cấp bằng lái thuyền buồm theo hệ thống Câu lạc bộ thuyền buồm Hoàng Gia với học phí là 750 euro trong thời gian một tuần. Các hãng thuyền buồm cũng thường tổ chức các khóa học lái thuyền buồm học lái và giờ học được tiến hành ngay trên mặt biển với những chiếc thuyền buồm thực thụ. Những người mê thuyền buồm thường gắn bó với thú vui này dài lâu, nếu không nói là mãi mãi. Còn những ai đã từng ra khơi cùng thuyền buồm sẽ không màng gì tới khách sạn năm sao nữa mà chỉ mơ về… thuyền buồm mà thôi.

Đọc tiếp Rong ruổi với thuyền buồm

Du lịch sinh thái ở Bazọt

Vốn là sinh viên đang theo học ngành du lịch, tôi rất thích đi thực tế tìm hiểu các tuyến điểm du lịch mới, nhất là du lịch sinh thái. Theo bài giới thiệu của một tờ báo, tôi đã đến thăm một khu du lịch sinh thái khác Bazọt( Định Quán, Đồng Nai) và cảm thấy ngày nghỉ của mình thật sự có ích. Từ tp Hồ Chí Minh đến khu thác Bazọt là đoạn đường quốc lộ rất dễ đi dài khoảng 140 km. Đến gần khu thác tôi nghe tiếng thác chảy ầm ầm, xung quanh cây cối tỏa bóng thấp tròn trĩnh. Thác Bazọt cao khoảng 200m, đổ nước xuống lòng hồ rộng 80.000 m2. Đang vào mùa hè, thác tung bọt trắng xóa. Ở những nơi mặt hồ yên tĩnh nước xanh ngắt và những chiếc thuyền vịt đưa khách đi dạo chơi. Tôi trông thấy những bàn tay nhỏ xíu vẫy và tiếng cười khúc khích từ những chiếc thuyên ấy… Nếu khách muốn dạo hết chu vi hồ thì đã có xuồng phục vụ. Điều làm tôi có thể yên tâm là những phương tiện chở khách tham quan ở đây trang bị đầy đủ phao cứu hộ. Dọc những con đường lúp xúp cây là hơn hai mươi chòi nghỉ chân lợp lá dừa. Ngồi đây, trong không gian lồng lộng, uống cốc nước trái cây mát lạnh, du khách có cảm giác thật thảnh thơi. Chỉ với thác; hồ nhưng Bazọt không làm cho khách chán bởi đay là nơi giúp họ thực sự được hòa mình với thiên nhiên. Hồ nước mênh mông ở đây có nhiều cá nước ngọt và tôi đã tìm đến với thú vui câu cá chỉ một tiếng đồng hồ, tôi đã câu được hai con cá to. Thú câu cá xem ra cuốn hút được nhiều vị khách trung niên. Họ tịnh tâm thả cần và không hề tỏ ra bối rối khi cá cắn mạnh. Cá cũng là món chủ đạo cho bữa cơm trưa tại nhà hàng của khu sinh thái được dựng lên theo kiểu dã ngoại với chất liệu tre nứa. Đặc sản của nhà hàng này là món đầu cá nấu măng chua và những món chế biến từ cá tươi. Chị Thảo Nguyên một du khách lần đầu tiên đến thăm khu thác Bazọt đã không giấu nổi ngạc nhiên: “khác hẳn với những khu du lịch sầm uất, Bazọt thật sự đem lại cảm giác mới lạ nhờ không khí trong lành và ít có bàn tay con người tham gia vào. Tôi thích những nơi như thế này vì nó là điểm đến phù hợp cho gia đình vào ngày nghỉ cuối tuần”. Cơ sở hạ tầng ở khu du lịch sinh thái này không nhiều, chỉ là ,một khu nhà nghỉ gồm 4 phòng cho khách qua đêm và điều đáng ngạc nhiên là chỉ với 2.000 đồng/vé vào cửa, khách có thể vui chơi ở đây cả ngày. Được biết, lượng khách đến đây trong các dịp lễ và ngày nghỉ cuối tuần trung bình là 5.000 người/ngày. Khu thác Bazọt đang ngày càng hút khách. Một vài hãng lữ hành cũng đã bắt đầu dẫn khách đến đây tham quan và có nhiều ấn tượng tốt. Khi mà các điểm sinh thái hiện đang bị thương mại hóa, khu du lịch sinh thái thác Bazọt thật đáng được trân trọng.

Đọc tiếp Du lịch sinh thái ở Bazọt

Con đường huyền thoại

Đó là con đường mang tên Bác nối liền miền Bắc với miền Nam. Con đường ấy đã chuyên chở bao bộ đội, súng đạn, từ Bắc vào Nam để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thực hiện thống nhất nước nhà. Chiến tranh đã kết thúc đã gần 30 năm nay, nhưng con đường này không hề bị quên lãng mà trái lại đang được tu sửa, mở rộng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế của các tỉnh phía tây tổ quốc. Khi đoàn du lịch của hội người cao tuổi Hà Nội của chúng tôi đi tham quan đường Hồ Chí Minh thì con đường này đã sắp hoàn thành. Điểm dừng đầu tiên của chúng tôi là Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình). Nơi đón tiếp cũng như thuyền chở khách vào thăm hang động ở đây đều chuẩn bị chu đáo. Qua một đêm, được ăn nghỉ đàng hoàng, thoải mái, chúng tôi quên hết mệt nhọc và lên xe đi Đong Hà, một thị trấn buôn bán sầm uất, đồng thời là thủ phủ của tỉnh Quảng Trị. Nghĩa trang Trường Sơn nằm ngay bên đường. Đoàn chúng tôi vào thắp hương trước hàng ngàn ngôi mộ trắng xóa. Các chiến sĩ an nghỉ nơi đây đều quê ở miền Bắc. Phần mộ của họ được xây cất ngay ngắn và phân thành từng khu vực theo tỉnh. Nhiều địa phương như Hà Nội còn có tượng đài kỉ niệm với bàn thờ rất tôn nghiêm vả trang trọng. Sau đêm ngủ ở Đông Hà, chúng tôi theo đường 9 đi về phía tây. Thời chiến tranh chống Mỹ, đường 9 là một địa danh nóng bỏng nên tại đây cũng có một nghĩa trang liệt sĩ mà du khách đi qua thường dừng lại để thắp hương và viếng mộ. Đi một đoạn đường 9, chúng tôi sẽ về phía nam. Con đường Hồ Chí Minh lúc này men theo dãy Trường Sơn – đến A Lưới – huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên – Huế, quê hương của đồng bào Vân Kiều. Con đường Hồ Chí Minh mở qua đây sẽ phát triển cả một vùng rừng núi hẻo lánh chính là một cách đền ơn đáp nghĩa cho những tấm lòng son sắt với cách mạng của nhân dân địa phương. Qua A Lưới, chúng tôi như nghe thấy tiếng đàn ta lư vẳng theo nhịp chân của các cô gái Vân Kiều đang giù sắn, giù đạn lên núi tiếp tế cho các chiến sĩ cách mạng. Đoạn đường này còn đang hoàn chỉnh nên nhiều chỗ rất khó đi, chúng tôi phải đi xuống hàng trăm mét cho xe không tải vượt qua. Thực ra, xe có thể rẽ sang phía đông theo đường số 1 để đi, nhưng các cụ trong các câu lạc bộ đều quyết tâm phải tiếp tục vào Nam theo đường Hồ Chí Minh. Qua Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam, chúng tôi tới Kom Tum. Từ đây xe vượt qua các tỉnh Kom Tum, Gia Lai, Đăk Lăk trên cao nguyên bằng phẳng với tốc đọ trên trăm km một giờ, hai bên đường bạt ngàn rừng cao su, cà phê. Đất núi lửa bazan đỏ một màu trông thật thích mắt. Thành phố Buôn Ma Thuộc đây rồi! Buôn Ma Thuộc không chỉ là nơi có Buôn Đôn với những đàn voi đã được thuần dưỡng, có hồ Lắc mênh mông, mà còn là nơi mở màn cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975. Một tượng đài hoành tráng với cỗ xe tăng của quân Giải phóng kỷ niệm sự kiện vẻ vang này đã được dựng lên ở Buôn Ma Thuộc. Từ Buôn Ma Thuộc có đường đi Lâm Đồng rồi từ đó về Sài Gòn, nhưng vì muốn đi theo đường Hồ Chí Minh cho đến cùng nên chúng tôi rẽ sang phía tây đi Đồng Xoài( tỉnh lỵ của Bình Phước) rồi từ đó đến Tây Ninh. Con đường Hồ Chí Minh chạy đến vùng Đông Nam Bộ( nơi từng đặt Trung ương thời chiến tranh) thì chấm dứt. Những chuyến xe chở người, súng đạn, thực phẩm của miền Bắc chi viện cho miền Nam đi đến đây coi như hoàn thành nhiệm vụ. 

Đọc tiếp Con đường huyền thoại

Thúc đẩy du lịch phát triển – phần 2

Hệ thống các dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, nghỉ dưỡng… cũng được phát triển một cách đồng bộ, như khu vui chơi giải trí đồi Thiên An, khu công viên nước Ngự Bình, phố đi bộ, khu nhà vườn Phú Mộng- Kim Long, khu nghỉ mát Thuận An, Lăng Cô, Bạch Mã, Cảnh Dương, khu ngâm tắm nước khoáng Mỹ An, Thanh Tân… và hệ thống hàng trăm nhà hàng đáp ứng cho mọi đối tượng khách du lịch kể cả ngày lẫn đêm. Cho đến nay đã có 10 đơn vị lữ hành quốc tế và 14 đơn vị lữ hành nội địa đang hoạt động trên địa bàn Thừa Thiên Huế sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của du khách. Một số doanh nghiệp như công ty du lịch Hương Giang đã có văn phòng đại diện ở một số thị trường trọng điểm như Nhật, Úc, Pháp, Bỉ, Thái Lan… bước đầu đã mở được một số cơ sở dịch vụ như ăn uống, giới thiệu sản phẩm thủ công mũ nghệ ở các nước. Song song với việc phát triển cơ sở vật chất, vấn  dề đào tạo cho đội ngũ quản lý, đào tạo tổng thể cho đội ngũ công nhân viên chức cũng được chú trọng. Hiện nay ngành du lịch Thừa Thiên Huế đã đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ công nhân viên chức trực tiếp phục vụ đạt 67%,  đội ngũ 147 hướng dẫn viên du lịch đạt tiêu chuẩn đã cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế. Về củng cố kiện toàn tổ chức các doanh nghiệp nhà nước năm 2000 đến nay chỉ còn 2 doanh nghiệp, đến năm 2005 sẽ chỉ còn lại 1 doanh nghiệp. Còn lại là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Việc chuẩn bị Festival Huế 2004 đã bắt đầu từ sau Festival 2002. Từ cơ sở vật chất đến nội dung hoạt động trong lễ hội  Festival đã được lãnh đạo và ban tổ chức Festival chỉ đạo hết sức chu đáo và ban tổ chức Festival chỉ đạo hết sức chu đáo và đầy trách nhiệm. Chúng tôi hy vọng sẽ làm hài lòng du khách trong nước và quốc tế đến tham dự lễ hội. Hiệu quả kinh tế trực tiếp thu được trong 9 ngày Festival chỉ ở những con số nhất định nhưng điều mong đợi của chúng tôi là sự thành công của Festival Huế 2004 sẽ gây tiếng vang lớn trong nước và quốc tế. Từ đó khách du lịch sẽ biết về Huế, biết về Việt Nam nhiều hơn và lượng khách du lịch sẽ tăng trưởng nhanh sau mỗi kỳ Festival. Và điều hết sức quan trọng là làm cho nhân dân hiểu được và góp phần cùng ngành du lịch xây dựng Thừa Thiên Huế phát triển mạnh, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo tồn, giữ gìn và phát huy những thế mạnh vốn có của Huế, để ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mà nghị quyết đai hội tỉnh đảng bộ Thừa Thiên Huế đã xác định. Với tốc độ phát triển như hiện nay thì đến năm 2005, chúng tôi có thể đón được 1 triệu lượt khách và năm 2010 phấn đấu đạt được 2 triệu lượt khách như mục tiêu đã đề ra.

Đọc tiếp Thúc đẩy du lịch phát triển – phần 2

Thúc đẩy du lịch phát triển – phần 1

Trong 4 năm gần đây, hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Thừa Thiên Huế phát triển mạnh, đặc biệt là sau Festival Huế 2000 và 2002. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch đa dạng, phong phú, đáp ứng khá đầy đủ các sản phẩm du lịch theo yêu cầu của khách du lịch quốc tế cũng như nội địa. Các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng… chất lượng ngày càng cao. Số lượng du khách đến Thừa Thiên Huế từ 4 năm qua tính bình quân hàng năm tăng từ 15-17% lượt khách. Điều đó nói lên sự hấp dẫn của du lịch Thừa Thiên Huế, đồng thời khẳng định tính bền vững và hiệu quả kinh tế trong phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế. Hiện nay ở Thừa Thiên Huê ngành du lịch phát triển khá toàn diện đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Về hạ tầng kỹ thuật: Huế có sân bay Phú Bài, có cảng nước sâu Chân Mây có thể đón các loại tàu du lịch biển cỡ lớn trên 3 vạn tấn, có đường sắt Bắc Nam, có cửa khẩu sang Lào trong tuyến hành lang Đông Tây, hệ thống đường bộ đến các điểm tham quan du lịch hết sức thuận lợi. Quy hoạch tổng thể ngành du lịch cũng đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt bao gồm: khu vực Huế và vùng phụ cận, nơi có 2 di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại; khu vực thứ 2: Lăng Cô, Bạch Mã, Cảnh Dương đã được tổng cục du lịch xác định là 1 trong 4 khu du lịch trọng điểm của Việt Nam; khu vực thứ 3: đường Hồ Chí Minh, A Lưới, đây là cụm du lịch lịch sử, sinh thái có nhiều địa dnah nổi tiếng trong công cuộc giải phóng dân tộc như: Đường Hồ Chí Minh, chiến khu Dương Hòa, sân bay A Sầu, thung lũng A Lưới, đồi A Boa (đồi Thịt Băm) nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ. Hiện nay toàn ngành du lịch Thừa Thiên Huế có 98 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đang tham gia kinh doanh du lịch, với số lượng cơ sở lưu trú bao gồm: 108 khách sạn, có 3.300 phòng trong đó có 27 khách sạn từ 1 sao đến 4 sao, ngoài ra còn có hệ thống các nhà khách, nhà nghỉ trên 500 phòng và 500 nhà dân đăng ký tham gia đón khách du lịch với số lượng lên đến 1.000 phòng. 

Đọc tiếp Thúc đẩy du lịch phát triển – phần 1