Ôđétxa- thành phố trong cơ chế thị trường

Ôđétxa- thành phố cảng thuộc Ucraina, nằm ngay trên bờ biển Đen. Thành phố gồm một triệu rưỡi người, có cảng Ôđétxa- cảng lớn nằm ở phía nam Liên Xô (cũ) và là nơi neo đậu trú ngụ thường xuyên của hạm đội Hắc Hải thuộc hải quân Xô viết trước kia.
Kể từ khi thành lập phố cảng tới nay, tuyệt đại bộ phận người dân ở Ôddestxa là dân tứ chiếng đến và sống về nghề buôn bán là chính. Vì vậy, sau ngày Liên Xô tan rã, người dân ở cảng này thích ứng rất nhanh với cơ chế thị trường. Họ đã biến thành phố Ôđétxa sống trong bao cấp buồn tẻ thành một trung tâm buôn bán sầm uất, năng động, đầy ắp hàng hóa.
Bao quanh Biển Đen có tới 11 quốc gia có liên quan tới việc buôn bán với Ôđétxa và vận chuyển hàng hóa trên vùng biển nội địa này.
Từ cảng Ôđétxa, hàng ngày có tàu biển chở hàng hóa với người đi buôn tới cảng Istambun của Thổ Nhĩ Kỳ. Tại cảng này, người ta có thể mua được mọi loại hàng hóa của thế giới tư bản, song hàng tiêu dùng là mặt hàng tiêu thụ dễ dàng nhất, như quần áo, rượu, hàng điện tử dân dụng,… Tất cả đều đóng sẵn trong các coongtenco lớn nhỏ tùy theo mặt hàng.
Đi phe hàng hóa trên biển cũng là một việc làm nguy hiểm. Ví như vào trung tuần tháng 1 năm 2001, chiếc tàu buôn Pamiat đã gặp nạn, bị đắm chìm, làm chết 20 người trong số 50 người đi buôn trên tàu. Số người được cứu sống, đa số bị phá sản vì của cải hàng hóa bị chìm cùng tàu xuống đáy biển.
Êleena- một nữ sinh viên chuyên buôn bán quần áo da cũng đã may mắn thoát chết từ vụ đắm tàu Pamiat. Từ sau tai nạn này, cô thôi không đi phe hàng tới Istambun, mà chuyển hướng làm ăn bằng việc mở 3 cửa hàng ở chợ “cây số 9”. Đây là một chợ nổi tiếng trong vùng về các mặt hàng, đặc biệt là hàng lậu thuế. Các quốc gia lân cận với Biển Đen cũng rủ nhau tới đây cất hàng như Anbani, Hunggari, Ba Lan, Nga và các nước Đông u cũ…
Bà cụ 86 tuổi vẫn sống sau 2 ngày bị chìm cùng xe dưới nước
48 giờ sau khi chiếc xe Pontiac Firebirb do bà Wandra McKinnie lái bị mất tích, cảnh sát Oklahoma đã tìm thấy nó đang nằm úp ngược dưới một con lạch ngập nước bên bờ sông. Điều khiến cho mọi người rất đỗi ngạc nhiên là sau khi trục xe lên, mở cửa xe bà McKinnie vẫn còn sống.
Bà McKinnie sau khi đón chồng không thành đã quay xe từ sân bay về nhà riêng ở Dallas. Trời tối, bị mất tay lái, xe văng ra khỏi đường, lật nhào xuống bến sông và nằm úp xuống lạch nước. Do nằm ở vị trí như thế nên nước không thể tràn kín hết nội thất của xe và bà McKinnie đã thò đầu ra khỏi nước dùng mũi sử dụng thất tiết kiệm không khí còn sót lại trong không gian mà nước không chiếm được trong xe. Một người qua đường phát hiện ra chiếc xe bị lật úp này và gọi cảnh sát tới can thiệp.
Rất nhiều người đã không tin và càng nghi ngờ câu chuyện này hơn khi biết rằng bà McKinnie đã tuổi 86.
Sự thật về mặt người sao Hỏa.
25 năm trước, một bức ảnh chụp bề mặt sao Hỏa do tàu thám hiểm Viking- 1 gửi về trái đất đã làm cho NASA và giới khoa học thế giới hết sức hoang mang, sửng sốt.
Ảnh thể hiện một khuôn mặt khổng lồ có chiều dài 3km với đầy đủ mắt, mũi, mồm nổi sừng sững trên mặt bình nguyên sao Hỏa. Điều đó, theo NASA, nó cũng bí hiểm và vĩ đại ngoài sức tưởng tượng như quần thể kim tự tháp tại Ai Cập. Với quy mô về kích thước và chính xác về giải phẫu học, chứng tỏ đã có những sinh vật cực kỳ thông minh, giống người đặt chân lên sao Hỏa và để lại tượng đài bằng đá của họ tại đây.
Vì sợ thông tin này gây ra sự hãi hùng cho người trái đất nên NASA đã âm thầm liên tiếp phóng nhiều vệ tinh khác nhau lên khu vực Cydonia- nơi cơ tượng đài bí hiểm trên.
Tháng 9/1997, NASA phóng lên quỹ đạo sao Hỏa một vệ tinh hết sức hiện đại có tên gọi Người thăm dò sao Hỏa (MGS). Từ tháng 5/1998 tới ngày 8/4/2000, MGS đã bay nhiều vòng trên khu vực Cydinia ở các độ cao khác nhau và chụp rất nhiều bức ảnh về “điểm nóng” của nó ở mọi góc độ, trong điều kiện thời tiết, góc chiếu sáng từ mặt trời tới và vào các mùa khác nhau.
Tập hợp tất cả hàng loạt bức ảnh lại, tới nay, NASA đã phở phào nhẹ nhõm vì trên sao Hỏa không hề tồn tại một “kim tự tháp mặt người” nào cả. Bức ảnh đầu tiên gây cho người trái đất nỗi kinh hoàng chính là tác phẩm giữa địa hình đồi núi trên sao Hỏa phủ đầy băng với “nghệ thuật” chiếu sáng tự nhiên của mặt trời lên địa hình đó. Cho đến nay, NASA đã tiêu hàng tỷ đôla để đi tới một khẳng định: Con người là sứ giả đầu tiên đặt chân lên sao Hỏa.
Lượng khách đi tàu hỏa cao nhất từ trước đến nay
Tháng 7/2001, ngành đường sắt đã vận chuyển được 1,172 triệu lượt hành khách, là tháng có số lượng hành khách đi bằng tàu hỏa cao nhất từ trước đến nay, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tại các ga lớn ở khu vực, ngành đường sắt đề tăng thêm tàu, nối thêm toa đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Đặc biệt, ngành đã giảm giá 58.288 vé cho học sinh và 62.072 thẻ ưu đãi vé cho sinh viên. Tổng doanh thu đạt 132 tỷ đồng, trong đó. Doanh thu vận chuyển hành khách vượt 6,8 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay.
Thanh Bình -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Một tổ buồng kiểu mẫu năm xưa

Vẫn là ở khách sạn Hữu Nghị công ty Du lịch Hải Phòng bây giờ nhưng cứ phải kể lại câu chuyện đáng khích lệ trong nghề phục vụ buồng những năm xưa. Ngày nào cũng vậy, các chị phục vụ buồng vẫn hỏi nhau: Có điều gì làm khách bực dọc hay không? Khách được ngủ ngon hay không? Tiện nghi trong phòng có đảm bảo tốt hay không? Có thiếu nước và điện sáng? Và có nhiều những câu hỏi khác nữa.
Hồi ấy, chị Nguyễn Thị tuyết, là tổ trưởng, rất được khách tín nhiệm. Là chị cả nên mối lo về công việc của chị nhiều hơn. Chị Tuyết xuyên cùng làm với chị em mặc dù mình là người điều hành đôn đốc chị em trong tổ. Với tác phong nhanh nhẹn, rất ít người ngờ chị đã có con gái lớn trên 20 tuổi. Theo nghề từ năm 1959, nghề phục vụ buồng vẫn là đề tài hấp dẫn đối với chị. Bao kỷ niệm vui cũng có mà buồn cũng có trong hành trình nghề nghiệp của mình. Có lần chị tâm sự: “Nhớ nhất là những chuyến đi phục vụ lưu động cho các đoàn khách Đảng và Chính Phủ, các đoàn khách quốc tế ở Đồ Sơn hay ở Hạ Long. Tuy vất vả nhưng thật vui vì được khách tin tưởng. Có yêu nghề thì mới thấy nghề mình đáng quý và mới tìm thấy niềm vui trong công việc của mình”
Mấy ai hiểu hết công việc của anh chị em tổ buồng. Để có được những căn buồng nghỉ thoáng mát, sạch sẽ làm vui lòng khách không phải chỉ cần nhiệt tình phục vụ là đủ mà còn cần thêm kinh nghiệm và phải học hỏi không ngừng lẫn nhau. Công việc của tổ buồng bề bộn hơn cả là vào mùa du lịch, khách đến và đi liên miên. Hầu hết 7 chị em trong tổ đều có gia đình, cùng lúc phục vụ 32 phòng, trong đó có 14 buồng loại đặc biệt không phải dễ dàng gì. Trong điều kiện trang thiết bị ngày càng xuống cấp mà không có nguyên liệu hóa chất như bây giờ, chị em đã mạnh dạn dùng bột than củi, muối trắng hoặc vỏ chay để đánh bóng, cọ rửa đá men và bồn tắm.
Yếu tố quan trọng khác để khách sạn thu hút được nhiều khách đến nghỉ là thái độ của chị em phục vụ. Khách ở các buồng do tổ chị đảm nhiệm đều được đón tiếp niềm nở, vui vẻ, nhiệt tình, hành lý được bảo quản chu đáo cẩn thận, nhiều lần khách được hoàn trả lại hành trang mà họ đánh rơi hoặc ra đi bỏ quên lại trong buồng ngủ.
Mặc dù tổ buồng của chị Tuyết đã là tổ Lao động XHCN nhiều năm, nhưng khi được hỏi về hướng phấn đấu sau này của cả tổ thì chị tổ trưởng gương mẫu đáng mến phục này cứ một mực trả lời rằng: Chúng tôi vẫn sẽ phấn đấu nhiều hơn nữa để lúc còn ở thì khách vui vẻ thân mật và khi ra đi thì nhớ mãi khách sạn, để ngay cả khi không có dịp quay lại nữa thì họ cũng lưu giữ được chút ít kỷ niệm êm đềm về nơi tạm trú của mình trong những ngày xa nhà.
Làm gì để khách có được một sinh nhật vui vẻ?
Bạn Nguyễn Sơn, hướng dẫn viên du lịch Hà Nội hỏi: “Tôi được nhận hướng dẫn một đoàn khách quốc tế. Nếu trong những ngày khách tham quan du lịch tại Việt Nam lại có ngày trùng với sinh nhật của một hoặc vài thanh niên trong đoàn, nên xử lý thế nào?”
Báo Du lịch trả lời bạn như sau: Gặp tình huống này, bạn phải tìm hiểu trước các phong tục, tập quán tổ chức sinh nhật của du khách để có cách ứng xử thế phù hợp. Đồng thời, bạn phải xem mức kinh phí mà công ty cho phép bạn tổ chức ngày sinh nhật của du khách và dựa vào tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà tổ chức cho hợp lý, chẳng hạn:
Nếu ngày sinh của du khách trùng vào ngày đầu tiên đón đoàn thì bạn nên tổ chức mừng vào bữa tối là tốt nhất. Lúc đó, ngoài việc để các thành viên trong đoàn làm quen với nhau, bạn dành một khoảng thời gian thích hợp để tổ chức kỷ niệm ngày sinh nhật của vị khách cho phù hợp với phong tục tập quán của nước họ. Nếu không có điều kiện tổ chức sinh nhật, bạn có thể cho lễ tân đặt hoa, quà sinh nhật và thiếp chúc mừng của bạn vào phòng riêng của khách.
Ngày sinh của khách trùng vào ngày đi tour trên hành trình du lịch hoặc tại địa phương, bạn cũng nên tổ chức sinh nhật cho khách vào bữa tốt vì đây là thời điểm có nhiều thời gian nhất.
Trong trường hợp ngày sinh nhật khách trùng vào ngày cuối của tour du lịch, bạn nên bố trí thời gian cho hợp lý, đồng thời, cần thể hiện cử chỉ đánh dấu ngày kỷ niệm: một bó hoa tươi tặng cho khách vafoo bữa sáng hôm đoàn đã ngồi trên xe, hay trước khi xe nổ máy đưa đoàn ra sân bay.
Tuy mỗi nước. mỗi dân tộc có phong tục riêng nhưng công việc chuẩn bị và cách thức tổ chức lễ mừng sinh nhật đu có điểm chung như: về vật chất, thường có bánh ga tô, tặng phẩm, một bữa ăn được đặt trước, đối với khách VIP có thể có thêm rượu uống. Về tinh thần, ngoài hoa, bạn phải tạo được không khí trang trọng, đầm ấm trong buổi lễ kỷ niệm. Những lời chúc tụng dí dỏm, sâu sắc của hướng dẫn viên lúc này sẽ làm cho thành viên có ngày sinh nhật cảm động, đồng thời tạo ra được không khí vui vẻ, chan hòa trong đoàn khách.
Nếu 2,3 người có sinh nhật trùng vào thời gian của cả chuyến du lịch thì bạn phải tổ chức công bằng, khéo léo và tế nhị.
Trong mọi trường hợp, lời chúc phải phù hợp và bạn cũng chỉ nên dành thời gian tham dự cùng đoàn khách vừa phải, biết rút lui một cách khéo léo cho đoàn khách được tự nhiên.
Bùi Hoàng -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Phát biểu của phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm

Phát biểu của phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, trưởng ban chỉ đạo nhà nước về du lịch, khai mạc hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện kết luận 179-tb/tw của bộ chính trị
Thưa các đồng chí
Thay mặt Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các doanh nghiệp du lịch, các phóng viên báo chí Trung ương và Hà Nội về dự Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện Kết luận 179-TB/TW của Bộ chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới.
Ba năm qua, dưới ánh sáng của Kết luận Bộ Chính trị, được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự điều hành tích cực của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, sự triển khai tích cực của Tổng cục Du lịch, ngành du lịch nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả rất đáng phấn khởi.
Thực tế chứng minh Kết luận 179 của Bộ Chính trị là cơ sở, là yếu tố quyết định làm chuyển biến về cơ bản nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và toàn xã hội về du lịch dẫn đến hoạt động du lịch cả nước sôi động hẳn lên, khởi sắc rõ nét, tạo đà tăng trưởng cao cho thời gian tiếp theo, góp phần khẳng định vai trò, vị trí của ngành du lịch trong nền kinh tế nước nhà. Du lịch khởi sắc đã thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh phát triển từ nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp nhẹ, các nghề thủ công truyền thống, vận tải, nhất là Hàng không dân dụng đến Bưu chính viễn thông và nhiều ngành dịch vụ khác. Theo hướng đó du lịch đã trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước cũng như của từng địa phương, mở rộng giao lưu giữa các vùng, các miền trong nước và giữa nước ta với nước ngoài. Đảng và Chính phủ ghi nhận và biểu dương các cấp, các ngành, các địa phương đã đưa Kết luận 179 của Bộ chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới vào cuộc sống.
Tuy kết quả đạt được trong 3 năm qua là rất đáng khích lệ, nhưng sự phát triển của du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của nước ta, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Phải thẳng thắng thừa nhận rằng so với nhiều nước trên thế giới và ở khu vực, du lịch nước ta còn kém phát triển, chúng ta mới chủ yếu dựa vào những gì mà thiên nhiên ban phát và lịch sử để lại, còn ít sự tham gian của trí tuệ và bàn tay con người.
Thưa các đồng chí,
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc không chỉ về kinh tế đang mở rộng không ngừng, thì du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu bức thiết trong cuộc sống, một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Chính trong điều kiện quốc tế đó Đại hội lần thứ 9 của Đảng đã trao cho ngành du lịch một nhiệm vụ rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang là “nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”. Đây không chỉ là nhiệm vụ trực tiếp của các cơ quan chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về quản lý và điều hành du lịch mà là nhiệm vụ chung của tất cả các ngành, các cấp, các địa phương trong cả nước.
Là một dân tộc với hàng nghìn năm lịch sử, có một nền văn hóa lâu đời đặc sắc và phong phú, qua biết bao nhiêu thế hệ chiến đấu không ngừng vì độc lập tự do đã để lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau biết bao nhiêu di tích lịch sử và văn hóa bất diệt. Đồng thời cùng với những thử thách gắt gao, thiên nhiên đã phú cho đất nước ta vô vàn cảnh quan thiên nhiên có sức hấp dẫn tuyệt vời. Tất cả những di tích đó, cảnh quan đó là tài sản vô giá của dân tộc và nói riêng của du lịch, là những điều kiện cần và đủ để phát triển du lịch mang sắc thái Việt Nam, trong sự kết hợp chặt chẽ giữa du lịch văn hóa, du lịch lịch sử và du lịch sinh thái.
Để thực hiện được nhiệm vụ Đại hộ Đảng đề ra tất cả các ngành, các cấp, các địa phương đều phải cùng nhau ra sức phát huy sáng kiến, cố gắng phấn đấu huy động mọi tiềm năng và khả năng từ nhiều hướng, tạo cho ngành du lịch thế và lực mới nhằm xác lập và khẳng định vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Năm 2001 và các năm tiếp theo là những năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, có ý nghĩa chính trị, kinh tế đặc biệt quan trọng đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Ngành du lịch nhất định phải góp phần xứng đáng vào sự nghiệp vẻ vang này.
Thưa các đồng chí,
Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện Kết luận 179 của Bộ Chính trị là Hội nghị đầu tiên về du lịch khi chúng ta bước vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới với sự tham gia đông đảo đại diện lãnh đạo các Ban Đảng, các Bộ, ngành Trung ương, 61 tỉnh, thành phố cả nước và nhiều doanh nghiệp. Mong rằng với tinh thần trách nhiệm cao và tâm huyết đối với sự nghiệp phát triển du lịch của đất nước, các đồng chí không nhữn chỉ ra những thành công, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân và các bài học kinh nghiệm mà điều chủ yếu là đề xuất các chủ trương, giải pháp thiết thực để đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời gian tới, trước mắt tạo ra những đột phá chuẩn bị cơ sở cho những bước đi nhanh hơn trong thời gian tới. Riêng năm 2002 vừa phải chuẩn bị các điều kiện để đón Seagames lần thứ 22 năm 2003, vừa xây dựng cơ chế chính sách để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn…
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 43(208)2001

Có nên xóa ngay chính sách “hai giá”?

LTS: Vấn đề chính sách hai giá (phân biệt mức giá một số dịch vụ giữa người nước ngoài với người Việt Nam) hiện đang gây nhiều tranh luận. Nhiều ý kiến yêu cầu phải xóa bỏ chính sách hai giá vì gây cho người nước ngoài tâm lý bị phân biệt đối xử. Ngược lại, một số quan điểm lại cho rằng chưa nên xóa bỏ ngay “hai giá” do nếu xét theo thu nhập của người nước ngoài, mức giá dành cho họ tại Việt Nam vẫn tương đối thấp. Dưới đây là bài viết của ông Trần Đức Thanh, cán bộ khoa Du lịch học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội). Báo Du Lịch mong muốn nhận thêm nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề duy trì hay xóa bỏ chính sách hai giá.
Hiện nay số lượng khách du lịch “ba lô” vào Việt Nam khá lớn. Hầu hết họ không sử dụng các dịch vụ của ngành du lịch Việt Nam mà ăn nghỉ tại các cơ sở tư nhân phục vụ không theo chuẩn mực cần thiết. Theo nhận định của một số người, du khách ba lô đại đa số là thanh niên, sinh viên và những người thất nghiệp. Do trợ cấp thất nghiệp hay thu nhập kém nên họ sang những nước có mức sống thấp hơn, trong đó có Việt Nam, để vừa tránh tình trạng hàng hóa đắt đỏ, vừa đi du lịch!
Chỉ tiêu GDP trên đầu người của Việt Nam vào hạng thấp trên thế giới. Đến năm 2000 chúng ta mới chỉ đạt 382 USD. Trong khi đó Thụy Sỹ đạt 37.748, Hoa Kỳ 33.799, Singapore 25.353, Pháp 24.018, Thái Lan 5.757. Điều này có thể giúp chúng ta thấy rằng giá cả hàng hóa một số mặt hàng chính ở Việt Nam rẻ hơn so với các nước. Chính vì vậy cũng sẽ là công bằng nếu như trong giai đoạn hiện nay tồn tại chính sách hai giá giữa người Việt Nam và người nước ngoài. Việc bảo trợ cho người Việt Nam hưởng thụ những tài nguyên du lịch của chính mình là việc làm hoàn toàn cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà còn có sự chênh lệch đáng kể giữa mức sống của chúng ta so với thế giới. Thực tế ở các nước lân cận như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia nhiều nơi vẫn thu phí tham quan đối với người nước ngoài cao hơn người trong nước. Vấn đề cần cân nhắc là không nên để giá cả chênh lệch quá lớn.
Đến nay nhận thức về du lịch của chúng ta đã có nhiều đổi thay. Mọi người đã dần hiểu được khái niệm “du lịch là ngành kinh tế mang tính xã hội sâu sắc”… như được đưa ra trong các văn bản chính thức của Nhà nước ta. Do vậy, theo cách hiểu của chúng tôi, trong giai đoạn hiện nay, việc tồn tại hai giá là một trong những thể hiện cụ thể về tính xã hội của du lịch.
Có một số ý kiến cho rằng để chính sách hai giá như vậy sẽ không khuyến khích được du khách nước ngoài đến nước ta. Theo chúng tôi chưa chắc phải như vậy. Trong thời gian qua, số khách quay lại Việt Nam lần thứ hai ít là do các nguyên nhân xã hội khác. Một trong những nguyên nhân cơ bản gây bất bình trong khách nước ngoài về giá cả là sự mập mờ với ý đồ chặt chém nhằm trục lợi cá nhân ở một số nơi. Du khách chắc chắn sẵn sàng và hài lòng khi trả 10 – 20 USD cho người hướng dẫn nếu họ được thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu qua thuyết minh và sự nhiệt tình của người hướng dẫn và đặc biệt nếu như trước đấy mức giá được công khai chính thức.
Chúng tôi rất mong ngành du lịch quan tâm nghiên cứu vừa đảm bảo quyền lợi của du khách trong nước, vừa thỏa mãn được khách nước ngoài trong khi vẫn góp phần mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu. Khi đánh giá mức phát triển du lịch, không nên chỉ căn cứ vào số lượng khách mà quan trọng là lợi nhuận thu được trong khi vẫn đảm bảo được chất lượng của môi trường tự nhiên cũng như xã hội.
Trần Đức Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Trao đổi để cùng tháo dỡ khó khăn – Phần 2

Vai trò quản lý nhà nước và du lịch đang mất dần.
Đây là vấn đề nhiều đại biểu rất bức xúc. Ông Nguyễn Ngọc Lưu, Giám đốc Sở DL Lâm Đồng nêu một thực trạng: “Tại Lâm Đồng số lượng khách sạn cung vượt cầu do chỉ cần đăng ký kinh doanh là Sở Kế hoạch – Đầu tư cấp giấy chứng nhận. Tôi đề nghị UBND tỉnh ban hành thông báo tạm thời ngừng cấp giấy chứng nhận thì tỉnh ngại vi phạm Luật. Thực tế cho thấy từ khi pháp luật Doanh nghiệp có hiệu lực, công tác quản lý Nhà nước về DL gặp nhiều khó khăn. Một số lĩnh vực kinh doanh lữ hành nội địa, khách sạn chuyển sang quyền quản lý của các ngành khác nên ngành du lịch không còn thẩm quyền quản lý, chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước”. Giám đốc sở DL Thừa Thiên Huế cho biết: Trong phạm vi Luật Doanh nghiệp quy định, các doanh nghiệp cấp dưới, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân hầu như có thể tự làm chủ tất cả từ thành lập đến giải thể doanh nghiệp. Sở Kế hoạch – Đầu tư chỉ gửi cho Sở DL một giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là xong, còn chức năng nhiệm vụ kinh doanh cần gì, ghi nấy! Ông Hoàng Trung Châu, Giám đốc sở DL Nghệ An trình bày khó khăn: Để tránh tình trạng hỗn loạn giá phòng, Ủy ban nhân dân tỉnh sở yêu cầu tất cả các khách sạn phải công khai khung giá. Nếu khách sạn nào không chấp hành thì phạt nhưng lại chưa có quy định xử phạt! Ông Châu đề nghị TCDL sớm đề xuất với chính phủ ban hành nghị định thanh tra chuyên ngành đẻ sớm có quy chế thực hiện “hậu kiểm”.
Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng cũng bức xúc: Hiện vai trò quản lý Nhà nước của các Sở và TCDL đang mất dần, chưa kể nhiều lĩnh vực trước đây ngành DL quản lý nay được giao cho các ngành khác cấp giấy phép. Bà thắng khiến cáo hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp DL “chui” đang hoạt động nhưng cấp sở khổng thể quản lý nổi. Một số Nghị định về DL ban hành chậm có nguyên nhân quan trọng do vướng mắc về quan điểm với luật Doanh nghiệp. Việc vận dụng luật Doanh nghiệp đối với ngành du lịch có đặc thù nhạy cảm về chính trị và kinh tế. Hiện TCDL đang tiếp tục tham mưu với Chính phủ xem xét nên vận dụng như thế nào để vừa tạo cơ chế thông thoáng vừa có thể quản lý chặt chẽ.
Vuờn quốc gia Haw Pas Villa – điểm du lịch đốc đáo.
Vuờn Haw Pas Villa này còn là một cái tên khác là Dầu con hổ, tên một loại sản phẩm dầu gió nổi tiếng thế giới. Cái tên Haw Pas Villa cũng là biểu trưng của đấng tối cao. Do vậy, 64 năm qua, vườn Haw Pas Villa luôn là điểm dừng chân đầu tiên của du lịch khi tới Singapore. Vuờn Haw Pas Villa được một kỹ sư người Trung Quốc thiết kế, mang đặc trưng màu sắc Á Đông. Nơi đây còn lưu trữ nhiều giá trị văn hóa và giáo dục phương Đông. Với người dân Singapore thì đây là nơi in dấu kỷ niệm tuổi thơ của họ, bởi những đứa trẻ mới sinh, khi được đưa đến đây cầu nguyện sẽ luôn gặp may mắn trong đời. Do vậy hầu như tất cả người Singapore đều đã đến vườn Haw Pas Villa này, ít nhất là hồi còn thơ ấu. Haw Pas Villa là nơi tất cả các lứa tuổi và thế hệ cùng đến thăm quan vui chơi được.
Tuy nhiên, theo thời gian, vườn Haw Pas Villa đang dần bị xuống cấp. Nhiều bức tường, họa bị mốc, nứt nẻ. Khu nhà ăn do quá tải nên gây ô nhiễm môi trường, cộng với ý thức vệ sinh con người dân chưa cao nên vườn thú dần bị rác thải lấn chiếm.
Nhận thức được điều này, tháng 3/2001 Bộ Du lịch Singapore đã duyệt dự án cải tạo vườn Haw Pas Villa, lấy lại bầu trời không khí trang nghiêm cho khu vực này. Các khu nhà ăn, khu vệ sinh được quy hoạch lại. Đặc biệt là việc tôn tạo lại những bức tượng, phù điêu cho đúng với nguyên bản. Tốn kém nhất là việc phục chế lại những mô hình theo thần thoại Trung Hoa như “10 tầng địa ngục”, “Phật bà quan âm bồ tát”. Đây chính là những biểu trưng tạo ra nét huyền bí của khu vườn. Với mức đầu tư tái tạo 500 triệu USD, chắc chắn khi hoàn thành, vườn Haw Pas Villa sẽ thực sự là điểm dừng chân tuyệt vời cho du khách.
Trịnh Minh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Trao đổi để cùng tháo dỡ khó khăn – Phần 1

Mới đây, Sở Du lịch Hà Nội đã tổ chức Hội thảo “Trao đổi kinh nghiệm quản lý và xúc tiến du lịch của các địa bàn du lịch trọng điểm”. Không chỉ dừng lại phạm vi “trao đổi kinh nghiệm”, các đại biểu đã thẳng thắn bày tỏ những bức xúc, khó khăn vướng mắc đang cảng trở ngành du lịch phát triển.
Cần sự tranh thủ, sự đồng tình của địa phương.
Ông Nguyễn Quang Lân – Giám đốc du lịch (DL) Hà Nội đã đánh giá: “Nhận thức về DL chưa đồng đều trong xã hội, cá biệt còn tồn tại những đánh giá sai lệch”. Giám đốc Sở Du lịch Hà Tây, ông Lại Hồng Khánh cho biết: “Chúng tôi cần phải liên tục đấu tranh gay gắt để chứng minh rằng DL là ngành kinh tế chứ không phải chốn ăn chơi. Do đó, phải đầu tư xứng đáng cho du lịch”. Đối với Ninh Bình, một trong những vần đề bức xúc nhất là nhận thức về văn hoá DL của nhân dân còn thấp. Một số người chỉ chạy theo lợi nhuận chứ không có ý thức bảo vệ môi trường kinh doanh DL lành mạnh. Tại Thanh Hoá, nhận thức của cấp uỷ và các chính quyền nhiều địa phương kể cả nơi có điều kiện để phát triển du lịch chưa đầy đủ. Ngay cả tổng cục du lịch (TCDL) cũng đang phải kiên trì làm rõ quan điểm “đầu tư cho DL tạo nguồn xuất khẩu tại chỗ rất lớn” vốn chưa được nhìn nhận đúng mức.
Trước những khó khăn như vậy, theo kinh nghiệm của Sở Du lịch Hà Nội, nhiệm vụ đầu tiên phải tập trung vào tháo gỡ là thống nhất nhận thức trong phát triển DL, bắt nguồn từ trong cấp ủy Đảng tới các cấp chính quyền và quần chúng. Thành uỷ và UBND TP. Hà Nội đã ban hành chỉ thị, nghị quyết và phát triển du lịch góp phần thay đổi cách nhận thức của các ban ngành, các cấp chính quyền và quần chúng đối với ngành du lịch. Tổng cục trưởng TCDL Võ Thị Thắng chỉ rõ: “Cần tranh thủ sự đồng tình của lãnh đạo địa phương. Muốn vậy, chúng ta phải phấn đấu để họ thấy được DL phát triển mang lại nguồn thu lớn, kích thích nhiều ngành khác cùng phát triển”.
Liên kết để có “nồi cơm” to, ngon hơn.
Nguyên tắc sống còn của ngành du lịch đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương, giữa các doanh nghiệp với nhau. Ông Đào Huy Tâm, Giám đốc Sở Du lịch Cần Thơ cho biết: “Chiến lược phát triển DL Cần Thơ là gắn kết với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và “dựa lưng” hẳn vào Tp. Hồ Chí Minh”. Ông Tâm chân thành: “Tôi muồn chúng ta liên kết bằng tấm lòng và trách nhiệm, cùng hợp tác để có nồi cơm to hơn, ngon hơn!”.
Bà Trương Ngọc Thuỷ, Giám dốc Sở DL TP. Hồ Chí Minh xác định: việc hợp tác với các địa phương bạn là nhiệm vụ hàng đầu để đảm bảo phát triển DL thầnh phố cần cân đối và bền vững. Tuy nhiên, một số hoạt động hợp tác còn mang tính tự phát, không có kế hoạch và định hướng lâu dài. Do vậy, không thể thiếu được sự chỉ đạo của TCDL với tư cách người “nhạc trưởng”. Bà Thuỷ kiến nghị: TCDL cần tăng cường vai trò quy tụ, hợp tác giữa các sở nhằm phát huy vai trò của các Sở, tạo sức mạnh trong quảng bá DL. Một số lĩnh vực cấp bách cần liên kết để tuyên truyền như xây dựng trang Web chung cho TP. Hồ Chí Minh và cùng Đông hay Tây Nam bộ, TP. Hồ Chí Minh + Hà Nội + Huế…, tổ chức chung đoàn đi quảng bá ở nước ngoài….
Theo ông Nguyễn Quang Lân, ngành DL các địa phương phải cùng đề xuất với các cấp trên những chính sách chưa hợp lý để giúp nhà nước hoàn thiện hơn về cơ chế vần cho phép ngành du lịch sử dụng một phần đáng kể doanh thu để quáng bá DL.
Phó Tổng cục trưởng TCDL Phạm Từ lưu ý: Các cơ sở chú trọng hợp tác liên vùng nhưng phải liên kết ngay với địa phương. Đơn cử như việc thực hiện chỉ thị 07 của Chính phủ về tăng cường giữ gìn trật tự an toàn và giữ vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch, nếu ngành du lịch không phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng thì bao nhiêu công sức xúc tiến du lịch đổ đi hết.
Trịnh Minh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Có nên thành lập cảnh sát du lịch ?

Trong bài báo “Có nên thành lập lực lượng cảnh sát du lịch?” đăng trên báo Du lịch số 28 ra ngày 13/7/2001, tác giả Nguyễn Thu Liên đã nêu ra mọi ưu điểm của cảnh sát du lịch và cho rằng thành lập lực lượng cảnh sát du lịch là việc nên làm (chứ không chỉ nghĩ), đặc biệt khi số lượng du khách ngày càng tăng lên và ở một số điểm du lịch vấn đề an ninh, an toàn cho khách đang ngày một nhức nhối.
Vấn đề an ninh, chính trị, sự an toàn của con người ở nước du lịch hay vùng du lịch là điểm quan tâm hàng đầu của không chỉ mỗi quốc gia, mỗi chính quyền sở tại, mà còn là sự quan tâm của mỗi con người khi tham gia đi du lịch. Chỉ cần một sự cố nhỏ về an ninh chính trị; hay tính mạng, tài sản của khách du lịch bị đe dọa thì điểm du lịch, vùng du lịch hay quốc gia du lịch sẽ bị du khách tẩy chay. Lúc đó chẳng cần một lời khuyến cáo nào thì tất cả các du khách sẽ không nghĩ đến việc đi du lịch đế đó nữa. Không có du khách sẽ không có du lịch và kéo theo hàng loạt vấn đề liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội nảy sinh… mà hậu quả không tốt đẹp gì. Đó là điều mà chúng ta cần xem xét lại một cách nghiêm túc hơn nữa, nhất là khi chúng ta đang xác định ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.
Hàng năm ở các điểm du lịch trên khắp thế giới, ngoài những lý do thiên tai không thể kiểm soát, chúng ta vẫn thường nghe đến những vụ đặt bom tại toa xe điện hay các khách sạn, nhà hàng… Các vụ bắt cóc khách du lịch để làm con tin để tống tiền hay vì mục đích chính trị v.v… và hậu quả thì ai cũng biết, ngành du lịch thất thu nặng.
Nước ta có một nền chính trị ổn định, sự an toàn xã hội rất cao và luôn được chăm lo, vì thế du khách nước ngoài đến Việt Nam rất an tâm. Nhưng đó mới chỉ là xét một cách tổng thể, còn đi sâu hơn, chúng ta cần phải xem xét lại vấn đề an ninh, an toàn tại các điểm, các khu du lịch trên cả nước. Việc thành lập cảnh sát du lịch mà tác giả Nguyễn Thu Liên đề cập là một việc làm mang tính thiết thực và nên được các cơ quan chức năng quan tâm.
Thực ra, cảnh sát du lịch đã hiện diện ở nước ta nhiều năm gần dây dù nó chỉ mang tính tự phát và không thể phân biệt rõ ràng. Ở bất cứ điểm du lịch nào (kể cả danh lam thắng cảnh, bãi biển, di tích văn hóa, lịch sử…) cũng đều có ban quản lý cùng các nhân viên bảo vệ, nhân viên cứu hộ, ở các ga xe lửa, bến tàu, bến xe đều có trạm cảnh sát giữ gìn an ninh trật tự cho hành khách, thậm chí trên các chuyến tàu đều có cảnh sát túc trực để bảo vệ và giải quyết các vấn đề an ninh. Tuy nhiên, lực lượng này đều do các cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm về sự uy tín của mình, vì yếu tố cạnh tranh… Nhưng dù với mục đích nào đi chăng nữa thì việc làm đó cũng đáng hoan nghênh. Trên thực tế, lực lượng này đã góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch… Tuy nhiên, họ cũng không tránh khỏi nhiều điều bất cập. Thứ nhất là hầu hết nhân viên đều không có kiến thức về du lịch, từ đó dẫn đến làm việc một cách cứng nhắc mang tính trách nhiệm. Chưa nhận thức được rằng trong ngành du lịch, thái độ phục vụ là quan trọng nhất, phải làm sao vừa bảo vệ kín đáo, hiệu quả mà vẪn từ tốn, lịch sự, chu đáo. Thứ hai, hầu hết các nhân viên cảnh sát, bảo vệ đều không biết ngoại ngữ, điều này ảnh hưởng không ít đến việc giải quyết các vấn đề xảy ra với khách du lịch như các sự cố tai nạn, mất cắp… Thứ ba, là một số trạm cảnh sát và nhân viên làm việc còn mang tính chuyên nghiệp và không có tính giúp đỡ. Đã có rất nhiều du khách nước ngoài phàn nàn về vấn đề này.
Theo dự báo của nhiều nhà nghiên cứu du lịch thì lượng khách du lịch đang và sẽ tăng lên rất nhiều, kể cả du khách trong nước và quốc tế. Đây là một cơ hội lớn cho ngành du lịch Việt nam phát triển và hội nhập. Vì vậy, việc đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch là vấn đề cần quan tâm hàng đầu. Thiết nghĩ, Tổng cục Du lịch và các cơ quan chức năng liên quan nên cùng nhau thảo luận và đưa ra kế hoạch hợp lý cho việc xây dựng lực lượng này. Phát triển nó mang tính chuyên nghiệp và bền vững để đảm bảo an toàn xã hội, an ninh chính trị của quốc gia và sự an toàn cho chính khách du lịch. Quan trọng hơn là để Việt Nam sẽ thực sự là điểm đến của thiên niên kỷ mới.
Đỗ Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(195)2001

Vì sao du lịch Đà Nẵng chưa thu hút khách?

Nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao với một địa phương có tài nguyên du lịch phong phú; có cơ sở hạ tầng, giao thông, liên lạc… phát triển mạnh như Đà Nẵng mà chương trình du lịch vẫn nghèo nàn, đơn điệu? Khách du lịch đến Đà Nẵng sau khi loanh quanh ở Bảo tàng Chàm, Ngũ Hành Sơn, dạo phố mua sắm rồi đi thẳng ra Huế hoặc vào nghỉ tại Hội An mà không lên Bà Nà để thưởng thức “bốn mùa trong một ngày”m, hoặc thăm thú các làng quê, làng nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa phương Đông như Cẩm Nê, Túy Loan, Bồ Bản,… hay các vườn đồi chè xanh ngút ngàn ở Phú Thượng, làng cộng đồng người dân tộc Cơ Tu ở Phú Túc, Tà Lang Cầu Sụp…?
Quả thật Đà Nẵng có đủ điều kiện và cơ sở để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, đáp ứng nhu cầu của phần lớn khách du lịch phương Tây. Lâu nay những người làm du lịch Đà Nẵng đã dày công nghiên cứu, khảo sát và lập nên nhiều chương trình du lịch hấp dẫn như: Các chương trình tham quan nghiên cứu di tích lịch sử – nghệ thuật kiến trúc của thành phố với 9 di tích xếp hạng quốc gia và các chùa chiền, nhà thờ, thánh thất; các chương trình du lịch làng quê, làng nghề truyền thống như nghề dệt chiếu Cẩm Nê, đan lát mây tre Yến Nê, bánh tráng – mì quảng Túy Loan, trồng hoa Phước Mỹ; các chương trình du lịch vườn đồi ở Cao Sơn, Phú Thượng; tìm hiểu phong tục tập quán đồng bào dân tộc ít người ở Phú Túc, Tà Lang; các chương trình du lịch sinh thái với Hải Vân, Sơn Trà, Làng Vân, Trường Định v.v… Thế nhưng, những sản phẩm du lịch trên đây chưa có mấy người mua vì những nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, những sản phẩm du lịch nêu trên còn ở dạng nguyên liệu thô chưa qua trau chuốt, tỉa tót để gọi là sản phẩm. Du khách có thể thích thú với một cảnh quan thiên nhiên còn hoang sơ chưa bị ô nhiễm hoặc bị bàn tay con người can thiệp thô bạo, nhưng không bao giờ chấp nhận một điểm tham quan du lịch còn quá thô sơ hoang dã. Thứ hai, sản phẩm du lịch được chào bán phải có đầy đủ thông tin về giá trị của nó nhằm trả lời cho người mua, nó khác những sản phẩm khác ở điểm gì. Thứ ba, vị trí sự tiện ích trong việc đi lại cả về thời gian và không gian hưởng thụ những sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng. Ít người chấp nhận phải qua bao nhiêu đèo dốc xa xôi, nguy hiểm chỉ để mua một sản phẩm mà họ có thể mua ở một nơi thuận tiện hơn với chất lượng cao hơn nhiều lần… Tuy nhiều nguyên nhân làm hạn chế đến sức mua sản phẩm du lịch ở Đà Nẵng nhưng không phải không khắc phục được. Đà Nẵng đã đang làm nhiều việc để các tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch. Nhưng nguyên nhân lớn nhất làm cho sản phẩm du lịch Đà Nẵng có ít người mua vì chưa có người bán hàng chịu khó; hay nói rõ hơn Đà Nẵng còn thiếu một hãng lữ hành đủ năng lực để vừa làm cho các sản phẩm ngày càng tinh xảo, vừa tận tụy chào bán tận tay khách hàng. Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng ngày càng tăng, điều đó chứng tỏ sản phẩm du lịch Đà Nẵng ngày càng hấp dẫn. Thế nhưng hầu hết khách du lịch có điểm dừng tại Đà Nẵng là do các hãng du lịch lớn bán chương trình từ hai đầu đất nước hoặc nối tour từ các hãng du lịch quốc tế vào Việt Nam qua Đà Nẵng. Các công ty lữ hành của Đà Nẵng chỉ làm chức năng nối tour hoặc thực hiện một vài dịch vụ trong rất nhiều dịch vụ, công đoạn và không có quyền đưa khách đến nơi này, nơi kia, mua dịch vụ này hay dịch vụ khác ngoài chương trình đã định sẵn.
Cho đến nay, tại Đà Nẵng, ngoài Công ty Du lịch Việt Nam (Vitours) trực thuộc Tổng cục Du lịch và chi nhánh Công ty Du lịch Tân Hồng tại Đà Nẵng là hai đơn vị có năng lực khai thác khách trực tiếp và bán tour trọn gói với số lượng khách tương đối, còn lại các đơn vị khác hầu như chỉ làm nhiệm vụ nối tour cho các đơn vị lớn của hai đầu đất nước.
Hiện nay Đà Nẵng đã mở những đường bay quốc tế trực tiếp cùng với cảng biển được nâng cấp đủ sức đón các hãng tàu biển lớn như: Star Cruises. Elizabeth; cửa khẩu Lao Bảo được khai thông với việc bỏ Visa cho khách Thái Lan càng làm cho Đà Nẵng nổi rõ vị thế là cửa khẩu quốc tế thứ ba của Việt Nam.
Trước điều kiện đó, việc tập hợp đội ngũ những người làm lữ hành chuyên nghiệp và đầu tư nguồn tài chính đủ mạnh nhằm xây dựng một đơn vị lữ hành có năng lực, đủ tầm giao dịch và bán sản phẩm trực tiếp đến các hãng lữ hành nước ngoài và du khách gần xa là một yêu cầu bức bách để Đà Nẵng sớm trở thành một trung tâm du lịch lớn của khu vực.
Ngô Trường Thọ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Afana – Nikitin – người Nga

Du lịch và thám hiểm thời trung cổ Afana – Nikitin – người Nga người châu u đầu tiên tới Ấn Độ
Năm 1466, triều đình Xiar ơvana một quốc gia hồi giáo ở phía tây Lý Hải gửi sứ giả đến Nga Hoàng Ivan III. Khi đoàn sứ giả này trở về nước, họ đi cùng một số thương nhân người Nga trong đó có Afana – Nikitin.
Afana – Nikitin xuôi theo dòng Vonga về tới Lý Hải, rồi sau đó tìm đường đi buôn bán với nước ngoài. Từ CuBa, Afana – Nikitin đi về phía Nam tới Iran. Ông ở lại đây 7 tháng và sau đó tới thành Rây (Teheran ngày nay). Cuộc hành trình kéo dài ngày và đôi khi ông ở lại một thị trấn, một thành phố nào đó tới vài tháng. Tại Teheran thủ đô của Iran, ông biết tin có thể tới Ấn Độ buôn bán ngựa giống và mua nhiều hàng quý với giá rẻ.
Afana – Nikitin quyết định đi tới Ấn Độ qua vịnh Ba Tư, qua Ocmudo một thành phố cảng lớn, sầm uất của Ba Tư thời đó. Tại Ấn Độ, Afana – Nikitin mua ngựa giống ở vùng thuộc Nam Ấn và sau đó chở ngựa bằng tàu biển lên Đabun, tây bắc Ấn Độ để bán. Thời đó, tại Đabun có chợ buôn bán ngửa của ba quốc gia:Ả Rập, Iran và Ấn Độ.
Trong 2 năm sống ở Ấn Độ, Nikitin đã đi tới nhiều thành phố, thị trấn và ông đã mô tả về đất nước con người của xứ sở này. Điều ngạc nhiên đối với Nikitin là mùa đông ở Ấn Độ nơi mà ông đi tới lại không có tuyết. Còn cây cối lại hết sức to lớn. Có những cây đa hơn 20 thân, tán và gốc các thân chiếm tới 100 m2. Bờ biển Ấn Độ rất đẹp, có rất nhiều cây dừa, quả có nước và cùi ăn rất ngon.
Nikitin ca tụng thiên nhiên bao nhiêu thì ông lại thiếu thiện chí khi nói về người dân . Ông mô tả:
Mọi người đi ở ngoài đường không mặc quần áo, đầu trần ngực hở, tóc bết lại vì mồ hôi. Phụ nữ mặc váy và ở xứ sở này có rất nhiều trẻ con. Đàn ông và hụ nữ đều có nước da đen. Tôi đi tới đâu mọi người theo tôi rất đông. Họ nhìn người da trắng với ánh mắt lạ lung.
Mưa mùa hạ ở Ấn Độ làm cho Nikitin rất ngạc nhiên. Mưa tới 4 tháng liền, ngày cũng như đêm, đều có thể có mưa. Đường sá lầy lội rất bẩn, song mùa mưa lại là mùa trồng trọt của người Ấn Độ. Tại đây người ta trồng cây lúa nước và các cây lương thực khác.
Tại Đabun, Nikitin không bán được ngựa, ông lại dắt đàn ngự đi sâu vào lục địa tới thành phố Đojune. Ông ở lại thành phố này 2 tháng và sau đó tới Đaburo một thành phố lớn và đông người của Ấn Độ thời đó. Tại đây, người ta buôn bán nhiều mặt hàng, kể cả hàng tơ lụa của Trung Quốc. Nikitin kể về người dân ở thành phố này một cách thê thảm.
Mọi người đều đen và giữ tợn, phụ nữ không biết e thẹn, kẻ cắp nhiều vô kể, nhan nhản khắp nơi… Thành phố có nhiều nhà cao, to, đồ sộ… có 5 vạn bộ binh, 1 vạn kị binh với những con voi có ngai vàng, ngựa có yên vàng. Ban đêm ở thành phố này có tới 1 vạn người, cưỡi ngựa, tay cầm đuốc đi tuần tra…
Nikitin lưu lại ở thành phố này Đaburo 1 năm. Kể từ ngày ra đi, Nikitin đã sống ở nước ngoài 6 năm, trong đó có hơn 2 năm sống tại Ấn Độ. Trong thời gian ở Ấn Độ, ông đã ở nhiều thành phố thuộc miền Tây Ấn Độ và cao nguyên Đê – căng. Trong nhật ký, Nikitin đã ghi chép mọi mặt về Ấn Độ như tình hình núi non sông ngòi, các thành phố, các hải cảng và phong tục tập quán của Ấn Độ. Trong nhật ký, Nikitin cũng nói tới thành phố Calicut ở phía nam Ấn Độ thời đó là một cảng lớn, buôn bán giữa Ấn Độ và các quốc gia Ả Rập. Nikitin cũng biết tới Xri – Lanca là một nước có nhiều đá quý và voi.
Năm 1472, Nikitin từ giã Ấn Độ trở về Nga. Cuộc hành trình của Nikitin không có ý nghĩa về mặt kinh tế. Song ông là người Nga và cũng là người châu u đầu tiên đã lưu lại ở Ấn Độ trong thời gian dài. Ông đã cung cấp thông tin cho chau u Ấn Độ. Tiế theo Nikitin, mãi 30 năm sau, người Bồ Đào Nha mới tới Ấn Độ.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Phố ô mai

Đã từ lâu, Hà Nội vốn nổi tiếng là địa danh có nhiều món ăn ngon mà ít nơi sánh kịp/ Có những dãy phố, làng quê mà hễ nhắc đến người ta gọi nó bằng cái tên của những món ăn: Phố Lý Quốc Sư là phố cháo gà, cháo vịt, Lã Vọng là chả cá, làng Vòng là làng cốm, Cầu Gỗ là phố ốc ghẹ và Hàng Đường là phố ô mai…
Những cửa hàng ô mai trên phố Hàng Đường đều có từ cách đây hàng trăm năm. Khi thưởng thức món ăn này người ta nghĩ đến một thú ẩm thực tao nhã mà không kém sự cầu kỳ. Ăn là cảm nhận cái đẹp của hương vị quê nhà chứ không phải để no nê. Các “nghệ nhân” có bí quyết chế biến gia truyền riêng mà người nơi khác không dễ gì có được, cũng chỉ là những loại quả: cóc, sấu, me, khế, mơ… nhưng họ kiểm nghiệm chất lượng từ nơi trồng ra nó. Chị Hồng chủ cửa hàng ô mai số 11 cho biết: “Trám ở Bắc Giang quả to, cùi dày, sấu Nghệ An giòn, mơ Bắc Kạn thơm, đậm đà…”. Khi chế biến họ phải chọn lọc từng quả rất cầu kỳ. Cách xử lý ngâm, tẩm, sấy, pha trộn với đường, muối gừng, ớt hoặc quế phải thật khéo léo, tinh xảo để làm sao cho ra nhiều món. Mà món nào cũng phải nổi vị món ấy và giữ được hương vị quả tươi.
Hiện ô mai phố Hàng Đường được khách trong nước cũng như khách du lịch nước ngoài yêu thích. Chị Lý Khánh du khách Trung Quốc cứ tấm tắc mãi khi thưởng thức ô mai ở cửa hàng Hồng Lam đây là cửa hàng chế biến theo phương pháp cung đình Huế, theo chị: ô mai Việt Nam không quá ngọt như ô mai Trung Quốc. Anh Hồng Lam chủ cửa hàng cho biết: “Hiện chúng tôi có 70 loại ô mai. Và để phù hợp với sở thích của khách hàng, đặc biệt là khách nước ngoài, chúng tôi sử dụng cả đường béo, đường gày khi chế biến…”. Bà Landown du khách Pháp cứ trầm trồ mãi khi nếm thử món mơ xào tại đây “Đưa vào đầu lưỡi thấy mát lạnh. Khi ăn có vị đậm đà củ muối, ngọt của đường, vị ấm nóng, thơm cay của gừng kèm cái mát của quả tươi. Thật là món ăn rất Việt Nam”.
Cả nước giờ có nhiều điểm chớ biến, sản xuất ô mai. Nhưng sản phẩm này ở Hàng Đường vẫn chiếm được lòng du khách. Cả phố giờ chỉ còn vài gia đình giữ được nghề nhưng phố vẫn ăn sâu vào tiềm thức của nhiều người bởi sản phẩm đậm đà hương vị quê hương, góp phần tạo nên bản sắc Hà Nội. Có được bản sắc đó ta thầm cảm ơn những con người đam mơ tâm huyết với nghề truyền thống của cha ông. Nói như anh Hồng Lam: Giữ nghề chỉ với yêu thích, đam mơ mà thôi.
Danh ngôn hài hước.
Người dại thường nghĩ là mình khôn, nhưng người khôn thì lại tự biết mình là dại.
Đàn bà là một cái máy tính mặc váy.
Chính vì nghe những người phụ nữ xưng tội, mà các cha xứ không lấy vợ.
Điều quái quỉ là: sau lưng chúng ta, mọi người nói những điều tuyệt đối đúng.
Lời nói như lá cây. Cây nào có lá nhiều thì ít quả.
Chương V: Khen thưởng và xử lý vi phạm.
Điều 18: Khen thưởng
Tổ chức cá nhân có thành tích trong việc kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên, vận chuyển khách du lịch thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều 19: Xử lý vi phạm.
Tổ chức cá nhân kinh doanh lữ hành mà không đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế mà không có giấy phép hoặc có sai phạm trong việc thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này, hướng dẫn viên du lịch quốc tế mà không có thẻ hướng dẫn viên du lịch thì tùy theo tính chất, mức độ quy phạm mà xử lý hành chính hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc tuy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với những quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên du lịch thì tùy theo tính chất, mức độ quy phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương VI: Điều khoản thi hành
Điều 20.
Những doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đã có giấy phép, đã đăng ký hoạt động kinh doanh trước ngày ban hành Nghị định này vẫn tiếp tục được hoạt động kinh doanh nhưng phải điều chỉnh, bổ sung đầy đủ các điều kiện của các hoạt động theo quy định của pháp luật tại Nghị định này.
Những người đã được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch trước khi ban hành Nghị định này mà vẫn còn thời gian sử dụng thì vẫn tiếp tục sử dụng thẻ đã được cấp để hướng dẫn khách du lịch.
Điều 21: Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 22: Tổng cục du lịch có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 23: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nguyễn Bích – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001